Việt Nam, WTO và tương lai của đất nước

Posted on August 19, 2012

1


Sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization), Việt Nam đã gặp nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng không ít thử thách.

Việt Nam đã tận hưởng rất nhiều thành quả trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu sau 5 năm gia nhập WTO (năm 2007-2011). Tuy nhiên, các quan chứ Việt Nam cho biết hôm thứ Tư vừa qua rằng nước này cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trước mặt.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tại một hội nghị tổ chức ở Hà Nội hôm thứ Ba vừa qua rằng là một thành viên WTO, Việt Nam sẽ tận dụng các lợi thế đầy đủ của mình để phát triển nền kinh tế quốc gia một cách nhanh chóng và bền vững, và cũng xem xét lại những cam kết mà Việt Nam đã ký kết sau quá trình 5 năm gia nhập.

Lãnh đạo Việt Nam đánh giá rằng riêng trong lĩnh vực song phương, Việt Nam đã hoàn thành hầu như tất cả các cam kết mà WTO yêu cầu.

Riêng tại khu vực châu Á, Việt Nam đã tích cực hợp tác chặt chẽ với ASEAN, hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

Hiện tại Việt Nam đang tích cực đàm phán về một số hiệp định tự do thương mại quan trọng như Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership) và thỏa thuận tự do thương mại song phương với Liên minh châu Âu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết.

Với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã được trải nghiệm cả cơ hội phát triển cũng như thách thức, và cả hai đều có tác động lẫn nhau, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Thương mại Vũ Huy Hoàng nói.

Về cơ bản, Việt Nam đã thành lập một hệ thống pháp lý toàn diện phù hợp với các quy định của WTO, cung cấp một môi trường kinh doanh bình đẳng và minh bạch. Việt Nam đã tận dụng đầy đủ các lợi thế của thành viên WTO để huy động phát triển cả nguồn vốn trong lẫn ngoài nước cho các dự án phát triển, mở rộng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và lực lượng lao động, ông Hoàng cho biết.

Theo Bộ Công nghiệp và Thương mại, sau 5 năm gia nhập WTO, tổng sản phẩm trong nước (GDP) nội địa tăng gấp 2,3 lần, và GDP bình quân đầu người tăng hơn gấp đôi so với thời điểm trước đó. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt gần 7%, kim ngạch xuất khẩu tăng hơn gấp 3 lần; và đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investments) cũng đã gia tăng đáng kể. Số lượng các dự án FDI tăng 1,5 lần, vốn FDI đăng ký tăng lên gấp 5,1 lần, và vốn thực hiện các dự án FDI cũng tăng 3,3% trong giai đoạn 2002-2006.

Việt Nam hiện đứng trong nhóm 15 quốc gia thu hút vốn FDI nhiều nhất trên toàn thế giới. Hiện nay Việt Nam có 51 nhà tài trợ quốc tế lớn, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương.

Điểm nổi bật trong mức tăng trưởng nhanh nhất là vào giai đoạn 2007-2011, dẫn đầu bởi các ngành nông-lâm-thủy sản, với tốc độ tăng trưởng trung bình 3,4% mỗi năm, hơn 0,4 phần trăm trên mức mong đợi của các chuyên gia.

Theo dữ liệu từ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, gia nhập WTO đã giúp Việt Nam cung cấp thêm nhiều việc làm cho những người lao động trong nước. So sánh với 5 năm trước đó, tỷ lệ lao động đã tăng 2,88%. Trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2020, tỷ lệ này được ước tính sẽ tiếp tục gia tăng trung bình ở mức 2,4-2,8% mỗi năm, trong khi tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống 4,78% vào năm 2015 và 4,23% vào năm 2020.

Tuy nhiên, các chuyên gia từ Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết những thành tích mà Việt Nam đã hưởng được qua WTO vẫn chưa thực sự đúng mức mà đất nước mong đợi.

Các chuyên gia nói rằng sau khi trở thành thành viên WTO, Việt Nam đã phải chịu áp lực mạnh bởi gặp phải sự cạnh tranh khó khăn với các công ty nước ngoài ở cả các hai thị trường nội địa và thế giới.

Trong giai đoạn 2007-2011, GDP đã giảm xuống mức 6,5% so với 7,8% trong giai đoạn 2002-2006. Lĩnh vực dịch vụ nhích nhẹ ở mức 0,1% lên 7,5%, vì lĩnh vực này không dành cho đầu tư nước ngoài, trong khi suy thoái kinh tế thế giới đã khiến các công ty nước ngoài không muốn đổ tiền vào lĩnh vực dịch vụ.

Riêng lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 7% mỗi năm, so với mục tiêu đặt ra ở mức từ 9,5-10,2% mỗi năm. Trong giai đoạn 2002-2006, hai lĩnh vực này đã đạt được tốc độ tăng trưởng trung bình là 10,2%.

Đầu tư tổng thể trong giai đoạn hậu WTO đã tăng 8,3%, so với 13,4% trong vòng 5 năm trước đó.

Các chuyên gia cho rằng tăng trưởng chậm chạp là do việc cạnh tranh mạnh mẽ từ các công ty nước ngoài cũng như sản xuất trong nước yếu kém về chất lượng lẫn hiệu quả.

Họ cho rằng, để đạt tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách sử dụng các công nghệ hiện đại. Hợp tác với các công ty có vốn đầu tư và tham gia ở nước ngoài trong hệ thống phân phối ở khu vực cũng có thể giúp tăng thêm mức tăng trưởng mà Việt Nam đang cần.

Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức trong thời gian tới trong việc thực hiện các cam kết của thành viên WTO. Chính phủ Việt Nam cần phải điều chỉnh chính sách đối với xuất nhập khẩu, tăng chất lượng của hàng hoá xuất khẩu và hạn chế xuất khẩu nguyên liệu, cũng như tìm kiếm đối tác nhập khẩu lớn hơn nhằm giúp ổn định lĩnh vực này. Các chuyên gia của Viện Quản lý Kinh tế Trung ương khuyến nghị rằng lĩnh vực bán lẻ và dịch vụ cần được tái cơ cấu lại để đảm bảo minh bạch trong quá trình giao thương và tạo điều kiện cho các công ty trong nước tăng cường khả năng cạnh tranh.

Tagged: ,