24,455 lao động nước ngoài làm việc “chui” tại Việt Nam

Posted on August 21, 2012

0


Nhiều trường hợp lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc rồi mới làm các thủ tục để cấp giấy phép lao động.

Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam tại thời điểm tháng 7/2012 là 77.087 người, trong đó đã được cấp giấy phép lao động là 49.983 người (chiếm 67,15%) và chưa được cấp giấy phép lao động là 24.455 người (chiếm 32,85%).

Đây là những con số được nêu tại trong tài liệu phục vụ phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền tại phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sẽ diễn ra vào sáng mai (21/8).

Theo Bộ trưởng Chuyền, lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam từ hơn 60 quốc gia, trong đó mang quốc tịch châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia…) chiếm khoảng 58%, quốc tịch châu Âu (Anh, Pháp…) chiếm khoảng 28,5% và các nước khác chiếm 13,5%. Lao động là nam chiếm 89,9%, có độ tuổi từ 30 trở lên chiếm 86%.

Những phân tích của tài liệu cũng cho thấy khá nhiều hạn chế trong quản lý lao động nước ngoài, vấn đề đã và đang rất nóng ở nhiều diễn đàn.

Như, mặc dù pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan trong việc quản lý lao động nước ngoài, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn một số bộ, ngành có liên quan vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện như Bộ Y tế, Bộ Công Thương.

Bất cập trong quản lý còn ở chỗ, pháp luật hiện hành về đấu thầu mới quy định về mời thầu, dự thầu, chấm thầu, chưa có quy định về tổ chức thực hiện và giám sát quá trình thực hiện các gói thầu hoặc dự án đã trúng thầu; cơ chế xử lý đối với nhà thầu không thực hiện đúng quy định pháp luật Việt Nam về lao động nước ngoài khi tham gia đấu thầu, chấm thầu.

Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật cũng còn không ít hạn chế. Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đều có thẩm quyền cho phép người nước ngoài vào Việt Nam (trong đó có mục đích là làm việc), nhưng chưa có sự phối hợp chặt chẽ, chưa cung cấp thông tin kịp thời giữa các cơ quan chức năng và sự giám sát đối với người nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam làm việc.

Nhiều nhà thầu nước ngoài chưa thực hiện việc kê khai trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất về phương án sử dụng lao động Việt Nam và lao động nước ngoài theo quy định.

Nhiều trường hợp lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc rồi mới làm các thủ tục để cấp giấy phép lao động, khi sang Việt Nam không chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ để xin cấp giấy phép lao động… khi được cơ quan chức năng yêu cầu thì đưa ra nhiều lý do để trì hoãn hoặc khó khăn thực hiện, thiếu tích cực để khắc phục.

Một số địa phương chưa nắm chắc và đầy đủ số liệu về lao động nước ngoài đang làm việc. Các số liệu báo cáo của địa phương chủ yếu nắm được là thông qua công tác kiểm tra và thực hiện cấp giấy phép lao động cũng là một trong những nguyên nhân được kể đến.

Cơ quan quản lý cũng chỉ rõ “chiêu” của nhiều lao động nước ngoài vào Việt Nam lao động thông qua một số doanh nghiệp của Việt Nam để xin thị thực nhập cảnh với mục đích thương mại (không nêu rõ xin vào lao động) nên được cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài xét cấp thị thực 3 đến 6 tháng. Hết thời hạn tạm trú nêu trên, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh ở các địa phương không gia hạn vì chưa xin giấy phép lao động thì họ đối phó bằng cách xuất cảnh, sau đó xin lại thị thực nhập cảnh vào Việt Nam.

Một trong số không ít nguyên nhân các doanh nghiệp, tổ chức và lao động nước ngoài chưa chấp hành các quy định của pháp luật, theo Bộ trưởng Chuyền là chế tài xử lý, xử phạt chưa đủ để răn đe và buộc người sử dụng lao động và người lao động phải thực hiện; các biện pháp cưỡng chế chưa kiên quyết; chưa có nhiều biện pháp xử lý triệt để đối với các doanh nghiệp, nhà thầu hay cá nhân lao động nước ngoài cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam…

VnEconomy

Phải hạn chế cho được lao động nước ngoài chui

Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền trả lời chất vấn. Ảnh: TTXVN

Có tình trạng lao động người Trung Quốc vào Việt Nam làm việc rồi mua đất, lấy vợ, làm nhà.

Đó là khẳng định được Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Phạm Thị Hải Chuyền đưa ra tại phiên chất vấn tại Ủy ban Thường vụ (UBTV) QH ngày 21-8 khi trả lời các câu hỏi của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) về thực trạng cũng như giải pháp để quản lý lao động nước ngoài làm việc trái phép tại Việt Nam, nhất là lao động phổ thông người Trung Quốc (TQ) đang làm việc trái phép tại một số dự án bauxite ở Tây Nguyên.

Hơn ba vạn lao động không phép

Báo cáo trước UBTV QH, bà Chuyền cho biết đến thời điểm tháng 7-2012, cả nước có 77.087 lao động nước ngoài, trong đó số lao động nước ngoài đã được cấp giấy phép lao động là 49.983 người (chiếm 67,15%), số chưa được cấp giấy phép là 24.455 người (chiếm 32,85%) và số lao động không thuộc diện cấp giấy phép lao động là 2.649 người (chiếm 3,44%).

Tuy nhiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của QH, ông Bùi Sỹ Lợi, lại không tin vào các con số trên nên đề nghị Bộ Công an trao đổi thêm. “Bộ trưởng báo cáo có hơn 77.000 lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, con số này có vấn đề. Qua giám sát, chúng tôi thấy rằng ở cấp phường nắm con số rất tốt nhưng lên cấp trên nắm không tốt” – ông Lợi nói.

Trước đề nghị trên, Thứ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho biết năm 2012 số lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là 78.440 người, tăng 6% so với năm 2011, trong đó số người được cấp phép là 41.529 người, chưa cấp phép là 31.330 người, còn lại là không thuộc diện cấp phép. Số lao động có trình độ đại học 48%, có chuyên môn 34,6%, nghệ nhân 11,7%…

Ông Lâm cũng nhìn nhận việc lao động nước ngoài vào Việt Nam là rất phức tạp, theo nhiều cách. Trong đó, có lao động vào Việt Nam bằng con đường du lịch rồi không có tiền và ở lại kiếm tiền. Hầu hết số này vi phạm cả về thời hạn cư trú, visa nhưng xử lý thì khó khăn. Ví dụ, đưa họ trở về cũng gặp khó khăn như quản lý, mua vé máy bay, đặc biệt là số có quốc tịch châu Phi…

Vẫn không hài lòng về những con số, đại biểu Bùi Sỹ Lợi truy tiếp: “Số liệu Bộ Công an đưa ra là trình độ đại học 48%, có chuyên môn 34,6%, nghệ nhân 11,7%,… là không chính xác. Chúng tôi đi rất nhiều nơi thấy lao động phổ thông, lao động chân tay là chủ yếu”.

Trả lời lại, Thứ trưởng Tô Lâm cho rằng việc thống kê chủ yếu là căn cứ vào số lao động được cấp phép, còn không được cấp phép thì chưa xác định được. Ông Lâm cũng cho biết trong thời gian qua đã trục xuất 256 trường hợp lao động không phép, ngoài ra cũng có nhiều trường hợp lao động được vận động và ra về.

Chú ý đến vấn đề xã hội

Theo ĐB Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng), hiện nay lao động phổ thông trong nước đang rất thiếu việc làm. “Thế nhưng tại sao các dự án bauxite ở Tây Nguyên lại toàn thấy lao động phổ thông là người TQ?” – đại biểu Thuyền chất vấn.

Cùng đề cập đến vấn đề trên nhưng ĐB Đỗ Văn Đươn (TP.HCM) cho rằng việc lao động nước ngoài, trong đó có lao động TQ, làm việc trái phép ở Việt Nam không chỉ liên quan đến vấn đề pháp luật mà còn nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác. Đặc biệt như việc lao động người TQ vào Việt Nam lao động rồi mua đất, lấy vợ, làm nhà. Đây là những vấn đề rất hệ trọng. Vì vậy Bộ Công an cần phải có trách nhiệm, xử lý vấn đề này.

Thừa nhận các dự án bauxite ở Tây Nguyên có rất nhiều lao động nước ngoài không phép, Thứ trưởng Tô Lâm cho rằng nguyên nhân là do việc quản lý chưa thực hiện nghiêm chỉnh.

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền thì lý giải lao động phổ thông thường đi theo các dự án do TQ trúng thầu. Bà Chuyền khẳng định phải hạn chế bằng được lao động phổ thông vào Việt Nam làm việc. Trước mắt, Bộ đang tham mưu cho Chính phủ để xây dựng quy định về quản lý lao động nước ngoài trong một nghị định mới.

Vi phạm rồi về nước mà sao chúng ta lại không biết?

Chúng ta báo cáo là các đơn vị quản lý cơ sở nắm rõ hết lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Vậy tại sao việc bác sĩ TQ vào hành nghề ở Việt Nam chúng ta lại không rõ? Cụ thể, vụ việc xảy ra ở phòng khám Maria (Hà Nội) xảy ra chết người, khi phát hiện thì bác sĩ TQ đã về nước từ bao giờ mà chúng ta không hề biết.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội BÙI SỸ LỢI

THÀNH VĂN