Chuyện của “bầu” Kiên và những điều phải nghĩ

Posted on August 21, 2012

0


Và khi không có một cá nhân “tôi” nào phải chịu trách nhiệm, thì cái tập thể đầy sâu “chúng ta” kia sẽ vẫn cứ ung dung mà hưởng thụ lợi ích mà thôi.

Nguyễn Đức Kiên hay còn gọi là “bầu” Kiên, “bố già” Kiên có lẽ là cái tên nóng nhất trên mặt báo tại Việt Nam ngày hôm qua.  Thông tin ông Kiên bị bắt giữ bởi Cơ quan CS điều tra được xác nhận bởi lãnh đạo Tổng cục Cảnh sát phòng chống Tội phạm (Bộ Công an) về một số sai phạm liên quan đến hoạt động kinh tế khiến cho “dư luận rúng động”.

Các báo liên tục chạy tin về cá nhân ông Kiên, những hoạt động kinh tế công khai của ông và có cả tờ báo cập nhật từng phút diễn biến tại nhà riêng ông Kiên như một phóng sự chiến trường.

Thông tin cần thiết nhất có thể tạo ra “sự ổn định xã hội” như lời các anh an ninh làm việc với những bloggers viết bài phát biểu quan điểm trên blog cá nhân đến giờ vẫn chưa thấy mấy.

Nói ra điều này để thấy rằng, thông tin trên báo lề đảng mà hàng ngày chúng ta vẫn đọc, đang chịu sự chi phối và kiểm soát rất lớn từ cơ quan công an đối với các vụ án, và từ một thế lực chi phối nguồn tin. Chính xác hơn là đại đa số người đọc báo đảng, xem ti vi, nghe đài… chỉ nhận được thông tin đã được kiểm duyệt một cách chặt chẽ, hay gọi là ban phát thông tin.

Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc nhận thức và thái độ cá nhân đối với xã hội.

Trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội chiều 21/08/2012, khi đại biểu Đỗ Văn Đương thắc mắc về việc có hay không dấu hiệu thao túng thị trường tín dụng, nợ xấu của các tổ chức tín dụng là do một số ngân hàng thương mại cổ phần có các hành vi trái pháp luật, thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam – ông Nguyễn Văn Bình cho biết chỉ nhận được thông tin từ phía cơ quan Công an rằng ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt do đã thành lập ba công ty con và ba công ty này có hành vi kinh doanh trái pháp luật.

Cũng theo ông Bình, ông Kiên nguyên là Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) song “cơ chế Hội đồng sáng lập này không có trong bất cứ văn bản pháp luật nào”.

“Theo luật, các ngân hàng thương mại cổ phần chỉ có HĐQT và Ban điều hành”, ông Bình nói. (Theo Vietnamnet)

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Asia Commercial Bank), được gọi tắt là Ngân hàng Á Châu (ACB), chính thức đi vào hoạt động kinh doanh sau ngày 4 tháng 6 năm 1993. (Theo Wikipedia)

1993 – 2012: chừng ấy năm để một cơ chế không có trong luật tồn tại lâu như vậy mà không xử lý, trách nhiệm này không của riêng ai. Đó là trách nhiệm và là tội (chứ không còn là lỗi) của những người vận hành nền kinh tế xã hội theo “cơ chế” này.

Ai sẽ chịu trách nhiệm và chịu tội trong việc này?

Trong bối cảnh hiện nay, đảng Cộng sản Việt Nam đang phát động phong trào “phê và tự phê” thì việc bắt giữ một cá nhân có ảnh hưởng với sự ổn định của nền kinh tế, chẳng khác gì việc cắt bỏ một chân rết trong xâu chuỗi lũng đoạn thị trường để làm ví dụ điển hình cho phong trào trên.

Sau phê và tự phê sẽ là gì nếu không phải là tự sướng?

Sau mỗi lần phát động một phong trào, phải chăng có một cá nhân đại diện cho một nhóm lợi ích bị đưa ra trước vành móng ngựa nhằm trấn an dư luận, củng cố lại niềm tin?

Một mình ông Nguyễn Đức Kiên không thể chi phối cả hệ thống ngân hàng nếu không có sự lơi lỏng trong các chính sách và sự bảo kê của những người có thế lực đứng đằng sau ông. Vì vậy, việc bắt giữ ông Kiên trong tình trạng kinh tế năm 2012 bị khủng hoảng, nợ xấu liên ngân hàng chồng chất dẫn đến thị trường bất động sản đóng băng, chẳng qua là một hành động “giải ngân” chẳng đặng đừng trong quá trình phê và tự phê của đảng.

“Bầu” Kiên hay bất kỳ ông bầu nào khác bị bắt, cũng chỉ là giải quyết phần ngọn của một cái gốc đã thối rửa đang nuôi dưỡng nó.

Thực trạng kinh tế hiện nay của Việt Nam cho thấy khó có chỗ dung chân cho một doanh nghiệp tư nhân tử tế nếu không biết theo kịp “cơ chế” vuốt đuôi sự vận hành thị trường. Còn các doanh nghiệp nhà nước với cung cách điều hành của bộ máy quản lý đã để lại nhiều khối nợ hàng chục, hàng ngàn tỷ lên vai người dân sau vài màn hạ cánh của cá nhân đứng đầu các doanh nghiệp này.

Có bao nhiêu người dân biết được rằng tiền thuế họ đóng góp từ tiền lương, từ việc mua sắm chi tiêu, từ các quan hệ thông thương trong xã hội đã bị tiêu xài hoang phí cho sự vận hành nền kinh tế thị trường như hiện nay?

Khi được hỏi “Liệu từ giờ đến cuối năm có giảm được nợ xấu không?” – thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình trả lời rằng: “Từ giờ đến cuối nhiệm kỳ, tôi tin là với sức mạnh hệ thống chính trị của chúng ta, chúng ta sẽ đưa được nợ xấu về mức bình thường”

Câu hỏi dành cho chủ thể “Tôi” là ông Bình – với cương vị là người điều hành hệ thống ngân hàng và câu trả lời mà người nghe, người đọc nhận được là “Chúng Ta” cùng với “sức mạnh hệ thống chính trị” thật mơ hồ cho thấy rằng:Sẽ không có chuyện một cá nhân nào ở cương vị lãnh đạo sẽ phải chịu trách nhiệm hay hậu quả với những chính sách sai lầm đã áp dụng cho đất nước này.

Mẹ Nấm

Tại sao tôi đã phải rơi nước mắt khi đọc những thông tin về “Bầu Kiên”, một “Bố già đỏ” của Việt Nam?

Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68% dân số nông thôn, và các đoàn và đội cải cách đều cố truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một quy định bắt buộc, gọi là “kích thành phần”. Có nghĩa là, theo luật cải cách ruộng đất mà ông Hồ Chí Minh đã phê thuận thì ở mỗi làng, mỗi xã phải có 5,68% dân số phải bị đưa ra đấu tố, bị đưa đi cải tạo, hoặc bị hành quyết tại chỗ và để hoàn thành được chỉ tiêu này của đội cải cách, hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc đã bị quy thành địa chủ cường hào chỉ vì gia sản của họ gồm 1 bò, 1 heo và 1 đàn gà, mà nếu quy đổi theo giá thị trường hiện nay thì chắc gia sản của họ không thể vượt qua con số 500 Mỹ kim, tức là bằng khoảng một phần triệu tài sản của “Bầu Kiên”. 

*

Những ngày qua, dư luận trong và ngoài nước trở nên nóng hơn trước thông tin “Bầu Kiên”, một “doanh nhân thành đạt, một trong 100 người giàu nhất Việt Nam”, một tài phiệt đỏ vừa bị cơ quan cảnh sát điều tra của CSVN bắt giữ.

Thông tin về vụ việc bắt giữ “Bầu Kiên” được đăng tải đầy dẫy trên các trang báo cả lề đảng, lề dân cũng như cả trên một số báo chí nước ngoài. Công chúng đón nhận thông tin trên với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: Tất nhiên, chẳng mấy ai thù ghét gì “ông trùm” chỉ vì cái giàu có của ông ấy, bởi xét cho cùng, giàu nghèo đâu phải là tội, người ta chỉ vui mừng vì ít nhất cũng thấy được những dấu chỉ cho thấy cái ngày mà Việt Nam trở nên giống như các nước XHCN ở Đông Âu vào cuối thập niên 1980S và đầu thập niên 1990s sẽ không còn quá xa vời nữa.

Riêng tôi, khi đọc được những thông tin về “Bầu Kiên” tôi không thể nào kìm nén được “phức cảm” của mình và tôi càng đọc thêm thông tin, càng phải chạnh lòng bởi những cảnh đau thương của dân tộc Việt Nam, của đồng bào miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 cứ lần lượt hiện về trong tâm thức của tôi như một thiên thời sự về những thương đau tang tóc của dân tộc Việt.

Xin được trở lại với những tháng ngày tăm tối của nông dân Bắc Việt vào thời kỳ cải cách ruộng đất 1953-1956, là chương trình nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là “bóc lột”, “phản quốc” (theo Pháp, chống lại đất nước), “phản động” (chống lại chính quyền) như địa chủ, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập… được ông Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện vào những năm 1953–1956.

Cải cách ruộng đất tịch thu tài sản, đất đai của những người này và chia cho bần nông, cố nông; đồng thời tiến hành đấu tố và xử tội họ. Đây là một trong những phương cách chính yếu mà Hồ Chí Minh và những người theo chủ nghĩa cộng sản nghĩ rằng phải thực hiện để lập lại công bằng xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Như trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Manifesto), Karl Marx đã tuyên bố: “cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc”. Đó chính là cơ sở lý luận để Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam tiến hành cuộc cải cách ruộng đất này, mà theo đó, tất cả các gia đình trong xã được họ phân loại thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông; (c) trung nông cứng – sở hữu 1 con bò, 1 con lợn, 1 đàn gà; (d) trung nông vừa – sở hữu 1 con lợn, 1 đàn gà; (e) trung nông yếu – sở hữu 1 đàn gà hay không có gì cả; (f) bần nông; (g) cố nông.

Một gia đình nông dân có 2 con lợn đã có thể gọi là phú nông, sẵn sàng bắt giam để đưa ra đấu tố. Một gia đình nông dân sở hữu 3 sào Bắc Bộ đã có thể gọi là địa chủ, sẵn sàng bắt giam, đưa ra đấu tố và hành quyết ngay trước tòa án nhân dân.

Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68% dân số nông thôn, và các đoàn và đội cải cách đều cố truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một quy định bắt buộc, gọi là “kích thành phần”. Có nghĩa là, theo luật cải cách ruộng đất mà ông Hồ Chí Minh đã phê thuận thì ở mỗi làng, mỗi xã phải có 5,68% dân số phải bị đưa ra đấu tố, bị đưa đi cải tạo, hoặc bị hành quyết tại chỗ và để hoàn thành được chỉ tiêu này của đội cải cách, hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc đã bị quy thành địa chủ cường hào chỉ vì gia sản của họ gồm 1 bò, 1 heo và 1 đàn gà, mà nếu quy đổi theo giá thị trường hiện nay thì chắc gia sản của họ không thể vượt qua con số 500 Mỹ kim, tức là bằng khoảng một phần triệu tài sản của “Bầu Kiên”. 

Cũng cần nhắc lại rằng phát súng đầu tiên nổ vào đầu một phụ nữ là bà Nguyễn Thị Năm, tức bà chủ hiệu buôn Cát Thanh Long, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Giảng, và cũng là một đại ân nhân của Hồ Chí Minh, của chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chỉ vì bà “Má Năm” là một thương gia giàu có, mà đã là địa chủ, phú nông, đã là giàu có thì không còn là “nhân dân” nữa, mà họ chính là “kẻ thù của nhân dân”, bởi giàu có tức là “bóc lột”, là “hút máu mủ của nhân dân”! Cho dù tài sản của “Má Năm” cũng chưa bằng một phần triệu tài sản của ông “Bầu Kiên” hiện nay!

Và xin một lần nữa, được trở lại với đồng bào miền Nam sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975 với những chuỗi ngày thảm họa bởi chính sách “cải tạo công thương nghiệp” và chính sách “đánh đổ tư sản”. Về bối cảnh lịch sử, cho đến ngày miền Nam hoàn toàn rơi vào tay cộng quân Bắc Việt, Sài Gòn đã có cả một cơ sở vật chất, kinh tế kỹ thuật lớn nhất miền Nam và khu vực, nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp cả miền Trung, miền Nam. Ở đây tập trung hơn 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8.548 cơ sở công nghiệp tư nhân.

Sau đó, để công hữu hóa tư liệu sản xuất và đưa công nhân lao động lên làm chủ nhà máy, xí nghiệp, sau năm 1975 nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tiến hành vận động hai đợt cải tạo công thương nghiệp. Kết quả là đã quốc hữu hóa tài sản của 171 nhà tư sản mại bản, 59 tư sản công thương nghiệp cỡ lớn, tạo ra 400 xí nghiệp quốc doanh, 14.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, thu hút 270.000 công nhân và lao động, vận động hồi hương lập nghiệp mà thực chất là xua đuổi bớt thị dân về nông thôn lập nghiệp và đón nhiều đợt di dân đường dài từ miền Bắc XHCN vào miền Nam mà chủ yếu là vào Sài gòn để làm cán bộ nòng cốt trong tất cả các cơ quan hành chánh công quyền cũng như tất cả các công ty, nhà máy xí nghiệp, và từng bước phân bố lại lao động.

Trên thực tế, hầu hết những nhà tư sản lớn của Sài Gòn thời đó phần lớn đã di tản ra nước ngoài, thành phố chỉ còn các doanh nghiệp loại vừa như các chủ nhà in, chủ xưởng thủ công, chủ cửa hàng, cửa hiệu… Các ông chủ này; kể cả những người làm nghề chuyên môn và chỉ là tiểu chủ như chủ hiệu thuốc tây đều bị buộc phải kê khai tài sản, vốn liếng rồi trưng thu, tịch thu, trưng mua và buộc họ không được làm kinh doanh, phải chuyển qua sản xuất nông nghiệp, nhiều người phải rời khỏi thành phố. Nhiều cửa hàng nhỏ, vốn liếng chẳng có bao nhiêu, một số tiệm ăn, tiệm cà phê… cũng bị niêm phong, định giá và chuyển qua sản xuất quốc doanh, hợp tác xã.

Để thực thi, những tổ công tác mật được gấp rút thành lập, bắt đầu rà soát, lên danh sách những hộ gia đình kinh doanh, những gia đình giàu có phải vào diện “cải tạo tư sản”. Nguyên tắc hàng đầu của các chiến dịch này là bí mật, bất ngờ. Những ông chủ, bà chủ chỉ bàng hoàng nhận biết những gì xảy ra khi cửa mở và tổ công tác đặc biệt mà chủ yếu là những cán bộ “nằm vùng” trước đây, bất ngờ có xuất hiện trong nhà, đọc quyết định “kê biên tài sản” của họ.

Những cửa hàng, nhà cửa bị tịch thu trở thành tài sản công và thường sẽ thành một cửa hàng quốc doanh hoặc thậm chí nhà ở cho cán bộ. Tài sản bị niêm phong xong, mọi người trong gia đình đó phải chuẩn bị nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới”. Hàng triệu người sau một đêm ngủ bỗng trở nên trắng tay, trở nên người vô gia cư, bởi nhà ở, cơ sở kinh doanh, sản xuất của họ bỗng thay ngôi đổi chủ chỉ sau một đêm ngủ. Từ những thương gia, những công chức văn phòng họ bỗng trở thành những nông dân bất đắc dĩ, bởi trong đời chưa một lần biết đến cày bừa, gieo cấy là gì… Và không ít người đã quẫn trí, tự kết liễu cuộc đời bằng nhờ hình thức tự tử khác nhau…

Tất cả chỉ vì họ bỗng nhiên bị biến thành kẻ thù của dân tộc, của nhân dân, họ bị biến thành “thành phần bóc lột, chuyên hút máu mủ của nhân dân”. Tất cả xuất phát từ quan niệm đầu tiên của những con người cộng sản cho rằng các ông bà chủ chuyên ăn trắng mặc trơn, chỉ bóc lột nên nay cần phải cho đi cải tạo để họ thành những “con người mới XHCN”. Do đó đích đến của họ thường là các vùng kinh tế mới ở chốn rừng thiêng nước độc… Chỉ vì họ là những người giàu có, mà tài sản của họ chắc gì đã bằng được một phần triệu tổng tài sản của “Bầu Kiên” hiện nay.

Như một giọt nước tràn ly… Chính cái chính sách “Bần Cùng Hóa” nhân dân miền Nam, để xóa bỏ hoàn toàn chế độ “Người Bóc Lột Người” này của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tạo ra cảnh loạn nhân tâm, hệ quả là hàng triệu người Việt phải băng rừng lội suối hoặc phải vượt ngàn trùng sóng gió của Đại Dương, ngay cả trên những con thuyền hết sức mong manh để đi tìm tự do, đi tìm công lý và quyền sống, mà theo thống kê của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc thì có tới 1.750.000 người trong số họ đã mất mạng trên đường đi tìm tự do đó.

Đau thương quá cho dân tộc Việt vốn đã quá đau thương trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nhưng có lẽ chưa bao giờ dân tộc Việt lại đau thương như trong giai đoạn lịch sử này, dưới ách thống trị của chế độ cộng sản, bởi đối với những con người cộng sản ngày ấy, nghèo hèn là yêu nước và ngược lại giàu sang phú quý là phản quốc, là kẻ thù của dân tộc!

Bởi vậy mà hiện nay, đa phần người dân Việt Nam từ Nam chí Bắc đều là những người “yêu nước”, “yêu chủ nghĩa xã hội”, bởi hầu hết đều nghèo đói đều cơ hàn, cơm không đủ no áo không đủ ấm, bởi tài nguyên quốc gia đều đã bị sang bán cho ngoại bang, tài sản quốc gia lọt thỏm vào tay của khoảng 3 triệu đảng viên cùng 14 “Đầy Tớ Nhân Dân” là những ủy viên bộ chính trị cũng như trong tay của những ông trùm như “Bầu Kiên” vậy.

Trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Das Manifest der Kommunistischen Partei), xuất bản lần đầu ngày 21 tháng 2 năm 1848, được viết bởi các nhà lý thuyết cộng sản Friedrich Engels và Karl Marx, kêu gọi hành động cho một cuộc cách mạng vô sản để lật đổ trật tự xã hội tư sản và cuối cùng sẽ mang lại một xã hội cộng sản chủ nghĩa với 10 phương pháp nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản như sau:

1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước.

2. Áp dụng thuế lũy tiến cao.

3. Xóa bỏ quyền thừa kế

4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn

5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.

6. Tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước.

7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cấy cầy và cải tạo ruộng đất trong một kế hoạch chung.

8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp.

9. Kết hợp nông nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt thành thị và nông thôn.

10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xóa bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất,…

Chúng ta hãy thử một lần nhìn lại 10 điều tóm tắt của tuyên ngôn đó để so sánh với hiện thực ở đất nước cộng sản Việt Nam này để thấy rõ ràng rằng, tuyên ngôn của đảng cộng sản chỉ là một loại bịp bợm, rác rưởi để lừa bịp nhân loại về một “Thiên Đường XHCN” nơi trần thế mà Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam cũng đã áp dụng để lừa đảo cả dân tộc Việt Nam về công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng một chế độ XHCN công bằng, văn minh, không có “người bóc lột người”.

Bởi thực trạng xã hội Việt Nam ngày nay cho thấy rằng thực chất Hồ Chí Minh và những người cộng sản chỉ dùng chiêu bài đó để lừa bịp toàn dân để lới dụng máu xương của nhân dân cho mục đích tranh giành quyền cai trị đất nước, để được hưởng trọn những đặc quyền đặc lợi của những kẻ thống trị mà thôi, bởi tất cả những gì đã diễn ra, đang diễn ra trên đất nước này, và cả trên thành trì XHCN Bắc Triều Tiên nữa, đều ngược lại hoàn toàn với tất cả những gì đã ghi trong Bản Tuyên Ngôn của đảng cộng sản: Những kẻ nắm quyền cai trị đất nước vẫn đang tìm mọi cách để duy trì chế độ thừa kế nắm quyền. Khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị càng ngày càng lớn, Giáo dục, y tế cũng là đặc quyền đặc lợi của những người giàu có như các ông trùm “Bầu Kiên” và cháu con của họ, còn những gia đình nông dân nghèo làm sao có đủ tiền để cho con cái họ được hưởng lợi từ nền giáo dục quốc gia kho mà mức học phí quá cao so với thu nhập quá thấp của nông dân hay công nhân hiện nay?

Thực ra không ai có thể tính được rằng nếu tập trung tất cả của cải, tài sản của tất cả nông dân ở Đồng Bằng Sông Cửu Long lại liệu đã có giá trị tương đương với khối tài sản của ông “Bầu Kiên” chưa? Và hiện nay ở Hà Nội, ở Việt Nam có bao nhiêu “Bầu Kiên” như vậy? Những người cộng sản đang cai trị đất nước Việt Nam có thể trả lời cho toàn dân Việt những câu hỏi tương tự như thế được không? Thực ra có phải đảng cộng sản Việt Nam tiến hành “giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc” để xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ, tự do, hạnh phúc, một xã hội Việt Nam công bằng, văn minh hay chỉ cốt lợi dụng máu xương của đồng bào để giành đặc quyền đặc lợi cho riêng giai cấp thống trị và các thế hệ cháu con?

Nếu vẫn còn lương tri và có lòng tự trọng, những kẻ đang nắm quyền cai trị đất nước hãy mạnh dạn nói lời xin lỗi với toàn dân Việt Nam về những lừa lọc, bịp bợm cả dân tộc trong suốt non một thế kỷ qua, hãy chân thành nói lời xin lỗi với các cộng đồng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại đã vì những chính sách man rợ của cộng sản mà phải rời bỏ tổ quốc của mình để sống đời lưu vong nơi xứ lạ, và cả bộ chính trị, cả 3 triệu đảng viên cộng sản phải lập đàn cúng tế và ăn năn tội với oan hồn của hàng triệu nạn nhân của chế độ cộng sản đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn để giành quyền thống trị và những đặc quyền, đặc lợi cho những người cộng sản, và hãy cầu xin những oan hồn của hàng triệu đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên biển cả và trong các trại tỵ nạn, trên đường đi tìm tự do, đi lánh nạn cộng sản.

Cuối cùng, xin những người cộng sản đang nắm quyền cai trị đất nước hiểu rằng, đất nước này là của dân tộc Việt Nam, của 90 triệu đồng bào trong nước và hơn 10 triệu đồng bào Việt Nam đang sống lưu vong ở hải ngoại, chứ tuyệt nhiên, đất nước này không phải của riêng đảng cộng sản hay của những tên trùm như “Bầu Kiên” hay “Ba Dũng”… Để đừng tiếp tục đè đầu cưởi cổ toàn dân Việt nữa, đừng biến cả dân tộc Việt thành những người dân đen, suốt đời chỉ biết còng lưng làm lụng để để mang về “ngàn tỷ”, “ngàn ngàn tỷ” cho những người lưng thẳng như những “Bầu Kiên”, “Ba Dũng”, “Tư Sang”… và các “Bầu” khác trong bộ chính trị trung ương đảng cộng sản. Nếu không, quý vị sẽ ngàn đời đắc tội với hồn thiêng sống núi Việt Nam và đắc tội với cả dân tộc Việt Nam nữa.

Xin đừng để những người con của Đất Việt cứ phải suốt đời khóc nước thương dân.

Biệt thự của bầu Kiên nằm trên phố Xuân Diệu, 

phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội

Biệt thự của bầu Kiên nằm trên phố Xuân Diệu, 

phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội

Biệt thự luôn có 3-4 bảo vệ túc trực. Chiều 21/8, 

cổng chính đã khóa, khách đến nhà phải đi vòng ra cửa sau.

 

Ngôi biệt thự diện tích khoảng 500m2, có 3 mặt tiền, tường rào cao 3 mét.

 

Theo người dân xung quanh, ngôi biệt thự được xây cách đây vài năm. 

Vợ chồng ông Kiên ít khi quan hệ với hàng xóm.

Đường đi lát đá. Từng góc nhỏ của khuôn viên đều có cây xanh.

 

Bể bơi khoảng 100 m2 khiến biệt thự như một khách sạn cao cấp

 

Siêu xe Bentley biển đẹp của tư bản đỏ “bầu” Kiên

Bangkok, Thailand ngày 22 tháng 8 năm 2012

Nguyễn Thu Trâm

Bị can Nguyễn Đức Kiên và nền tư pháp vỏ chuối!

Nếu Paulo Thành Nguyễn cho rằng chuyện của “bầu Kiên” là chỉ dấu cảnh tỉnh cho những người thích xây nhà trên cát, thì vụ án Nguyễn Đức Kiên cũng có thể xem là tột đỉnh của “nền tư pháp vỏ chuối” – nó không chừa một ai. Hôm nay là Kiên, ngày mai là ai nữa?

Trước hết cần nói ngay, các trang báo nên gọi ông Nguyễn Đức Kiên như thế, bởi chiếu theo khoản 1 điều 49 Luật Tố tụng hình sự (LTTHS):

Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.

Chiếu theo khoản b mục 1 điều 88 Luật Hình sự:

Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam , thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân

cho thấy “vụ án Nguyễn Đức Kiên” đủ yếu tố để ra lệnh bắt tạm giam và điều tra ngay người đứng đầu Bộ Công An – Thượng Tướng Trần Đại Quang, bởi lẽ hình thức bắt Nguyễn Đức Kiên vô cùng mờ ám, vội vã đã dấy lên làn sóng HOANG MANG CAO ĐỘ trong xã hội, thông qua việc rúng động thị trường vàng. Giá vàng sáng nay đang tiếp tục tăng mạnh lên đến sát mốc 44 triệu/lượng (1) song song đó, thị trường chứng khoán chao đảo kinh hoàng với tâm trạng bán thốc bán tháo của nhà đầu tư (2) bởi “dân chứng khoán” chưa bao giờ chứng kiến điểm “rớt” thê thảm như hiện nay. Tâm lý bất an, hoảng loạn đang phủ trùm trong xã hội với thiệt hại có thể lên đến đơn vị ngàn tỉ đồng. Vì lẽ đó, mục 2 điều 88 Luật hình sự quy định:

Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

cũng phải được xét tới đối với ông Trần Đại Quang.

Ngoài ông Trần Đại Quang, người cũng gây hoang mang cho dân chúng chính là ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng bí thư của ĐCSVN với phát ngôn mà báo CAND dùng chữ “Tổng bí thư chỉ rõ” (3), còn báo ANTĐ dùng chữ “Tổng bí thư nhấn mạnh” (4) như sau:

“Toàn Đảng đang bước vào thời điểm rất thiêng liêng và hệ trọng, đang làm những công việc rất thiêng liêng và hệ trọng”.

thì chỉ một tuần sau bị can Kiên bất ngờ bị bắt vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 20/8/2012 mà nhiều người tin rằng đó như là sự khuyến cáo trước khi hành động trong nội bộ đảng của họ với nhau.

Tất nhiên, họ muốn dằn mặt hay đánh nhau, đó là chuyện của họ, nhưng họ không có quyền làm cho dân tình hoang mang, đó là dấu hiệu cho thấy (ít nhất) Nguyễn Phú Trọng và Trần Đại Quang vi phạm khoản b, mục 1 và mục 2 điều 88. (*)

***

Việc “bắt khẩn cấp” bị can Nguyễn Đức Kiên cho thấy tư duy áp dụng luật pháp tùy tiện và mang dáng dấp mafia của ĐCSVN không có gì thay đổi trong suốt mấy chục năm qua.

Họ tỏ ra “tay tổ” như những “đạo diễn thứ thiệt” khi “sản xuất bộ phim hình sự” ly kỳ mang tên“Bị can Nguyễn Đức Kiên và nền tư pháp vỏ chuối” với nhiều tình tiết gay cấn, hồi hộp, bất ngờ, vội vã, mờ ảo, nhiều uẩn khúc… nhằm làm thót tim khán giả đang theo dõi, thay vì chứng tỏ thực thi pháp luật một cách văn minh.

Bởi chiếu theo LTTHS, cho thấy hình thức, trình tự, kỹ thuật bắt giữ Nguyễn Đức Kiên hoàn toàn sai phạm và không thuyết phục.

Theo các trang báo cho biết, bị can Kiên bị bắt giữ và khởi tố theo “Điều 159. Tội kinh doanh trái phép” thuộc Luật hình sự, với mức án nặng nhất chỉ 2 năm tù và khoản tiền phạt tối đa 30.000.000 đồng. Đó không thể coi là tội phạm nguy hiểm. Hơn nữa theo “Điều 81. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” quy định như sau:

Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:a) Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
c) Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

thì việc bắt bị can Kiên không thỏa. Thêm vào đó, ngoài biện pháp bắt giữ, còn những biện pháp khác vẫn tỏ ra tôn trọng Quyền Con Người mà vẫn đảm bảo chế tài bị can được dẫn ra dưới đây:

– Điều 91. Cấm đi khỏi nơi cư trú.

– Điều 92. Bảo lĩnh.

– Điều 93. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.

Nếu thực chất vụ án Nguyễn Đức Kiên đơn thuần là về kinh tế, thì các biện pháp ngăn chặn không cần bắt người tỏ ra thuyết phục hơn, và thể hiện được bản lĩnh của nền tư pháp Việt Nam. Tiếc rằng, người Việt Nam đang thực thi trách nhiệm công dân trên “nền tư pháp vỏ chuối”! Một “nền tư pháp” vừa quê mùa, vừa hỗn ẩu với công dân, vừa tùy tiện không đúng chuẩn mực văn minh thế giới!

***

Hãy xem bị can Nguyễn Đức Kiên ngay thời điểm bị bắt(5):

ông Kiên tỏ ra khá bình tĩnh và có nói: “Tôi luôn chấp hành pháp luật…”.

Theo VNN, việc bắt giữ, khám xét và di lý về trại giam đối với bị can Kiên hoàn thành lúc 20 giờngày 20/8/2012. Trong khi đó “Điều 80. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam” ghi rõ:

Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này.

Việc “bắt khẩn cấp” tỏ ra không đủ thuyết phục, vậy theo logic, việc bắt người vào lúc 20 giờ cũng không thuyết phục nốt! “Nền tư pháp” này nên gọi là gì ngoài những vỏ chuối mà những kẻ mang danh thực thi pháp luật đang rải dọc đường cho không chỉ giới doanh nhân?

***

Câu nói quen thuộc “Ông có quyền không nói, nhưng những gì ông nói sẽ là bằng chứng trước tòa” khi người bị bắt tra tay vào còng, sẽ mãi là chuyện… người ta (nghĩa là các nước văn minh)!

Cỡ “đỉnh đỉnh đại gia” Nguyễn Đức Kiên có lẽ không thể nào quên vài Luật sư luôn sẵn sàng có mặt mỗi khi Kiên cần? Kiên có quyền không trả lời bất kỳ câu hỏi nào cho đến khi Luật sư riêng của Kiên xuất hiện? Cũng là chuyện xứ người nốt!

***

Nếu Paulo Thành Nguyễn cho rằng chuyện của “bầu Kiên” là chỉ dấu cảnh tỉnh cho những người thích xây nhà trên cát, thì vụ án Nguyễn Đức Kiên cũng có thể xem là tột đỉnh của “nền tư pháp vỏ chuối” – nó không chừa một ai.

Hôm nay là Kiên, ngày mai là ai nữa?

Dù Kiên có chịu án nhẹ nhất hay vụ án chuyển hướng từ chương XVI “Các tội xâm phạm quản lý trật tư kinh tế” sang chương XI “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” cũng chẳng ai ngạc nhiên, bởi “hai bao cao su đã xài” còn biến thành công cụ nguy hiểm để “xâm phạm an ninh quốc gia” mà Cù Huy Hà Vũ “dám” sử dụng vẫn còn đó!

Tôi mơ màng nghĩ về Nguyễn Thiện Nhân – Phó Thủ Tướng, khi ông ta nói: Ông Ngô Bảo Châu có quyền xài 650 tỉ đồng ngân sách nhà nước kiểu gì cũng được.(!) Có cần khởi tố ngay ông Phó Thủ tướng về việc xúi giục người khác vi phạm pháp luật?

Rồi sao nữa?

Nguyễn Ngọc Già
________________

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/vef/85525/vang-tiep-tuc-tang-manh–len-sat-44-trieu.html (1)

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/08/tam-ly-ban-thao-co-phieu-de-nang-thi-truong/ (2)

http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2012/8/178773.cand (3)

http://www.tinmoi.vn/thanh-khan-nghiem-khac-voi-chinh-minh-hon-nua-081007875.html (4)

(*)Nói điều này bởi lẽ khi tác giả đang viết bài “hãy sử dụng “cái thiêng liêng”, cái “hệ trọng” ngay đi!” đã “đánh hơi” thấy sắp có một trận quyết chiến nào đó, thêm nữa, khi dịch một phần tác phẩm “Anger” của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã bóng gió cho độc giả rằng: “…làm sao giữ được lòng thanh tịnh và nhẹ nhàng giữa hỗn mang trong những ngày gần đây tại Việt Nam?”, chính là lúc tác giả nhận được nguồn tin vỉa hè “tối nay (nghĩa là 20/8/2012) sẽ có việc động trời”, nhưng không dám loan tin vì nguồn chưa được kiểm chứng.

http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/85547/luc-bi-bat–bau-kien-noi-gi-.html (5)

Nguyễn Ngọc Già

Các bàn tay dơ hữu hình lấn át bàn tay vô hình

Những hành vi thao túng giá chứng khoán, mua bán chui cổ phiếu… thu lợi lớn nhưng mức phạt lại chỉ như giơ cao đánh khẽ. Vì thế, tuần nào, nhà đầu tư cũng đọc được thông tin về quyết định xử phạt của uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) nhưng dường như người vi phạm không ngán sợ. Đã vậy, các chiêu mua bán, làm giá ngày càng tinh vi hơn.

Từ đầu tháng 8 đến nay, nhiều cá nhân lãnh đạo và công ty chứng khoán bị bắt và khởi tố. Thị trường chứng khoán rúng động nhưng nhà đầu tư không ngạc nhiên. Bởi từ lâu nay, hầu hết họ ít nhiều đều biết đến khả năng thao túng thị trường của vài bàn tay hữu hình.

Phạt nhẹ

Dù cuộc thâu tóm Sacombank đã ngã ngũ, thị trường vẫn còn thắc mắc về mức phạt quá nhẹ dành cho hai đơn vị và một cá nhân do vi phạm quy định giao dịch cổ phiếu Sacombank. Tính theo mức giá 22.000 đồng/cổ phiếu vào thời điểm đó, nhóm này đã bỏ ra khoảng 1.200 tỉ đồng để mua vào cổ phiếu ngân hàng này, trở thành cổ đông lớn mà không công bố thông tin. Quy mô vi phạm, xét theo giá trị giao dịch, thuộc loại lớn, mức độ ảnh hưởng không hề nhỏ vì nó đóng vai trò quan trọng tạo nên sự thay đổi trong hội đồng quản trị nhưng mức xử phạt đồng đều ở mức 60 triệu đồng. Có lẽ do mức xử phạt nhẹ như vậy nên ngay sau đó một trong ba thành viên này, ông Trần Phát Minh, tiếp tục vi phạm qua việc bán ra, giảm tỷ lệ sở hữu mà không công bố. Mức phạt lần này nặng hơn một chút, ở mức 70 triệu đồng. Nếu tính lãi suất cho quãng thời gian năm tháng kể từ lúc vi phạm đến khi bị xử phạt, giá trị món tiền đóng phạt còn thấp hơn.

Năm 2010, SSC đã xử phạt bà Nguyễn Kim Phượng, cổ đông lớn của công ty cổ phần vật tư và vận tải xi măng (VTV) 170 triệu đồng do “phi vụ” làm giá cổ phiếu. Mức phạt này so với hai trường hợp kể trên xem ra khá nặng. Tuy nhiên, người nộp phạt hẳn thấy vui vẻ bởi số tiền thu về vào khoảng 1,6 tỉ đồng. Nếu xem mức phạt như trên là một án lệ thì nhà đầu tư rõ ràng có động cơ để vi phạm.

Trong sáu tháng đầu năm 2012, SSC đã ban hành 67 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân với tổng số tiền phạt là 3,922 tỉ đồng. Tính trung bình, mỗi tuần giao dịch, có ít nhất hai vụ xử phạt.

Năm 2011, IFC (phối hợp cùng diễn đàn quản trị công ty toàn cầu và SSC) thực hiện báo cáo Thẻ điểm quản trị công ty 2011, khảo sát 100 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất trên hai sàn TP.HCM và Hà Nội. Qua đó cho thấy việc quản trị công ty ở Việt Nam hiện ở giai đoạn đầu. Trong lúc chất lượng quản trị chưa cao, chất lượng nguồn nhân lực không đều, hệ thống kiểm soát, giám sát chưa hoạt động hữu hiệu, thông tin không minh bạch, thì môi trường giám sát chưa hữu hiệu khiến các hành vi trục lợi như một bàn tay hữu hình vô hiệu hoá khả năng của bàn tay vô hình.

Không có giám sát độc lập

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, một lý do quan trọng khiến các vi phạm và tái phạm trên thị trường chứng khoán ngày càng nhiều, là mức chế tài chưa đủ, xử phạt quá nhẹ. Đơn cử, luật Xử lý vi phạm hành chính vừa được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 1.7.2013 quy định: “Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực chứng khoán, thuế, đo lường, sở hữu trí tuệ… theo quy định tại các luật tương ứng”. Có nghĩa là, mức phạt tối đa đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán vẫn ở mức hiện hành 500 triệu đồng, mức phạt được áp dụng cách đây nhiều năm. Ngoài ra, theo quy định hiện hành, chánh thanh tra SSC có quyền phạt tiền tối đa đến 70 triệu đồng, nhưng theo quy định của luật Xử lý vi phạm hành chính, đã giảm xuống còn 50 triệu đồng.

Ông Alan Phan, chủ tịch quỹ đầu tư Viasa, cho rằng, khi tác nhân tham gia thị trường gian lận trong một thời gian dài sẽ khiến tính minh bạch của thị trường càng yếu trong khi cơ chế giám sát còn yếu kém. “Trên thế giới, tình trạng thao túng làm giá vẫn diễn ra, song họ có những chế tài nghiêm khắc. Còn tại Việt Nam, không phải gần đây, mà tình trạng thao túng, làm giá chứng khoán đã diễn ra từ lâu, nhưng chế tài như giơ cao đánh khẽ chẳng làm cho người chơi ngán sợ”, ông nói.

Ông Nguyễn Hoàng Hải, tổng thư ký hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) cho rằng, một lý do khiến thị trường bị thao túng là biện pháp chế tài không cụ thể, không nghiêm khắc. Quan trọng hơn, hoạt động thanh tra giám sát đã bị hạn chế, cơ quan thanh tra không độc lập, khi SSC vừa là quản lý, vừa là người cấp phép, lại vừa người thổi còi, nên các sự vụ gian lận được phát hiện mới còn lẻ tẻ, đầy tính chất xin cho.

Ông Alan ví von, giống như việc vượt đèn đỏ, người đi đường thấy việc vượt đèn đỏ để đến đúng giờ một cuộc hẹn làm ăn có lợi nhiều hơn thiệt hại vài trăm ngàn nếu bị công an phạt.

HỒNG SƯƠNG

“Lợi ích nhóm” có bao che tham nhũng?

“Năng lực không thiếu, tổ chức bộ máy không thiếu, quyết tâm không thiếu nhưng vẫn không phát hiện được tham nhũng, phải chăng có vấn đề về lợi ích nhóm, về bao che trong đội ngũ cán bộ?”.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền “phản biện” trả lời của Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh tại phiên chất vấn mà những quan ngại về sự kém hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tham nhũng được thể hiện ở hầu hết các câu hỏi, trong phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 22/8.

Ông Quyền cũng không phải là đại biểu duy nhất nhấn nút lần thứ hai để “nhắc” Tổng thanh tra về sự chưa đầy đủ và thiếu thuyết phục trong một số nội dung trả lời chất vấn.

Nhấn mạnh một thực trạng hết sức đáng lo ngại của Đảng và Nhà nước là 5 năm qua việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng năm sau giảm hơn năm trước, dù tình hình tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng, phức tạp, đại biểu Quyền đề nghị Tổng thanh tra cho biết nguyên nhân.

Vị Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp cũng chất vấn người đứng đầu ngành thanh tra về hiệu quả của công tác thanh tra và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong việc ít phát hiện hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, ông Tranh đã không trả lời nội dung này.

Với câu hỏi thứ nhất, ông Tranh lý giải rằng trong thời gian dài chưa có thống kê số vụ tham nhũng, cho nên những năm đầu thống kê thường cao, nhất là những vụ mà có giải quyết nhưng còn tồn đọng. Những năm về sau ít hơn vì tồn đọng không còn.

Nguyên nhân thứ hai, theo Tổng thanh tra, tham nhũng là hành vi rất tinh vi, tiềm ẩn, càng về sau người tham nhũng thường là người có chức vụ, quyền hạn, đặc biệt trong các tổ chức của cơ quan nhà nước phát hiện tố cáo tham nhũng rất ít.

Các giải pháp phòng, chống tham nhũng ngày càng mạnh mẽ hơn nên hành vi tham nhũng cũng được xử lý một cách kịp thời là nguyên nhân tiếp theo được ông Tranh đề cập.

Nói rõ là “chưa đồng tình”, ông Quyền cho rằng cần phải đi thẳng vào vấn đề, vì không phải là thống kê tồn năm nọ qua năm kia mà phải chăng ở đây có vấn đề về lợi ích nhóm, về bao che trong đội ngũ cán bộ trong việc phát hiện hành vi tham nhũng.

Cũng chưa đồng tình với Tổng thanh tra, đại biểu Đỗ Văn Đương (Tp.HCM) cho rằng nguyên nhân xử lý được ít vụ việc tham nhũng “chính là chỗ mắc mớ về quyền lực và tiền bạc”.

Muốn thoát ra được thì nên chăng xem lại vị trí độc lập của cơ quan phòng, chống tham nhũng. Điều đó lý giải vì sao các nước khác không giao cho cơ quan hành pháp trực tiếp điều tra tham nhũng mà giao cho viện kiểm sát và công tố, ông Đương nêu kiến nghị.

Sốt ruột vì những giải pháp chung chung của cơ quan thanh tra, nhiều ý kiến khác cho rằng chống tham nhũng chưa đạt yêu cầu chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng Lê Như Tiến chất vấn, có biểu hiện ngại, nể nang, né tránh, e dè, sợ va chạm hoặc lựa chọn hệ số an toàn cao trong thanh tra các vụ việc liên quan đến tham nhũng không, khi các vị đại biểu Quốc hội cho rằng hầu hết quá trình xử lý các vụ tham nhũng đều kéo dài, có vụ các cơ quan tố tụng chờ đợi kết luận của thanh tra để xử lý, song mãi vẫn chưa có.

Ủy viên thường trực Ủy ban Pháp luật Ngô Văn Minh nói rằng ở 2,5 trang về nội dung phòng chống tham nhũng tại báo cáo của Thanh tra chỉ có một dòng chấp nhận được. Đó là “công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt yêu cầu và mục tiêu, tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng, diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành gây bức xúc, bất bình trong xã hội”.

Điều cụ thể mà đại biểu Minh muốn biết là kết luận thanh tra tại 4 tập đoàn và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam có chỗ nào tham nhũng không?.

“Đối với các tập đoàn, tổng công ty, trên cơ sở phát hiện những thiếu sót, những sai phạm, vi phạm chúng tôi đề nghị chấn chỉnh và thu hồi, chuyển cơ quan điều tra 3 vụ, nếu có phát hiện thêm vụ nào sau kết luận thanh tra chúng tôi chuyển tiếp cơ quan điều tra”, Tổng thanh tra trả lời.

“Trong các khuyết điểm sai phạm qua kết quả thanh tra tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước lại không có khuyết điểm tham nhũng, như thế có thể nói công tác phòng, chống tham nhũng qua hoạt động Thanh tra Chính phủ không đạt yêu cầu?”, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (Tp.HCM) truy tiếp.

“Phát hiện tham nhũng trong thanh tra vừa qua chưa tương xứng với khuyết điểm vi phạm của các tập đoàn, chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường chất lượng trong công tác thanh tra làm sao truy cho đến cùng vi phạm để tìm dấu hiệu tham nhũng, chuyển các cơ quan có trách nhiệm xử lý”, Tổng thanh tra hứa.

Sau một số ý kiến phản hồi bày tỏ sự chưa đồng tình, ông Tranh xin tiếp thu ý kiến đại biểu để trong thời gian tới đây, thực hiện trách nhiệm thanh tra để phát hiện các hành vi tham nhũng sẽ làm kỹ hơn, tích cực hơn.

“Trong thời gian vừa qua chất lượng công tác thanh tra chưa thực hiện được một cách nghiêm túc đi đến cuối cùng những việc vi phạm của các tổ chức, đối tượng thanh tra. Cho nên việc phát hiện tham nhũng và đề nghị các cơ quan điều tra, xử lý hành vi tham nhũng chúng tôi cũng làm chưa nhiều, chúng tôi thấy được điều này”, Tổng thanh tra “tự kiểm điểm”.

NGUYÊN HÀ