Đừng ném tiền của dân vào nợ xấu

Posted on August 21, 2012

0


Đăng đàn giải trình về tình trạng  nợ xấu của ngân hàng hiện nay, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đưa ra sự so sánh rằng: So với khủng hoảng tài chính ở một số nước Đông Nam Á, tỉ lệ nợ xấu ở nước ta (8,6%, tương đương 202.000 tỉ đồng)  như thế là thấp…

Nhưng ông Bình quên rằng, so sánh như thế là khập khiễng, là có ý tự nâng thành tích chống lạm phát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tự biện minh cho sự kém cỏi trong quản lý, điều hành các chính sách tiền tệ và tự an ủi, trấn an dư luận. Bởi vì tỉ lệ nợ xấu ở một số nước có nền kinh tế mạnh hơn nước ta có thể cao hơn, nhưng đồng thời GDP hàng năm của họ cũng rất cao, nguồn thu ngân sách lớn, nguồn tiền trong ngân khố quốc gia của họ cũng lớn.  Hơn nữa, mỗi thời điểm, hoàn cảnh, mỗi nước khác nhau, điều kiện và nguyên nhân khác nhau, so làm sao được. Trong khi đó, nước ta còn nghèo, mọi thứ đều thấp hơn họ cả chục lần, không thể đem ra so sánh như thế.

Theo báo cáo của các ngân hàng tính đến tháng  6, nợ xấu toàn hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% tổng dư nợ. Trong đó, khối ngân hàng thương mại nhà nước chiếm 3,96% tổng dư nợ với 54.600 tỷ đồng. Dư nợ của khối ngân hàng cổ phần là 41.00 tỷ đồng, tương đương 4,54% dư nợ. Thế nhưng, con số nợ xấu do Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đưa ra lại lên tới 8,6% – gần gấp đôi của các tổ chức tín dụng trong khi mới tính đến 31/3. Quy mô nợ xấu theo cơ quan giám sát của Ngân hàng Nhà nước ít nhất là 202.000 tỉ đồng. Trong đó, theo Chánh Thanh tra Nguyễn Hữu Nghĩa, nợ nhóm 5 – nhóm có nguy cơ mất vốn – chiếm 40% tổng nợ xấu. Trong báo cáo giải trình gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông thừa nhận nợ xấu của các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng nhanh từ năm 2008 tới nay.

Ông Nguyễn Hữu Nghĩa cho rằng nguyên nhân dẫn tới những con số khác nhau về nợ xấu là tình trạng phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu trong báo cáo tài chính thấp hơn thực tế để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Ông cũng cho rằng một số ngân hàng điều hành tín dụng bất cập đã để nợ xấu tăng cao như vừa qua. Nhiều tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm quá cao (trên 50%), trong khi khả năng về quản trị rủi ro, giám sát vốn vay còn bất cập.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nợ xấu sau quý II có thể đã vượt trên 10% và việc thanh lọc “cục máu đông” rất cần kíp, phải được tiến hành càng sớm càng tốt. Trong khi đó, ông Lê Xuân Nghĩa – thành viên Hội đồng chính sách tài chính tiền tệ quốc gia – lại nhấn mạnh: “Nợ xấu đã lên quá lớn và các ngân hàng không có khả năng tự xử lý. Nếu để ngân hàng tự làm, cùng lắm mỗi năm chỉ giải quyết được 1%-2% nợ xấu”.

Có nhà phân tích kinh tế lại nhận dịnh rằng: Một trong những nguyên nhân khiến nợ xấu tăng cao là do các ngân hàng tăng trưởng quá nóng nhằm đảm bảo hiệu quả lợi nhuận trước áp lực tăng vốn. Tại phiên chất vấn Thống đốc  NHNN chiều 21-8, đại biểu Đỗ Văn Đương (TP HCM) đề cập thẳng vào vụ ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt tối 20/8: “Rất hoan nghênh cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB. Ông Kiên còn là cổ đông chính của nhiều ngân hàng thương mại, việc này gây ra hậu quả xấu. Xin hỏi việc thao túng thị trường tín dụng của một số ngân hàng cổ phần thời gian qua và cố ý làm trái pháp luật, Thống đốc có nắm được không? Nếu nắm được thì có biện pháp xử lý thế nào?”.

Ông Bình trả lời ông Đương và trước các đại biểu, trước Ban Thường vụ Quốc hội là Bầu Kiên không liên quan gì đến ngân hàng ACB…Nhưng ít nhất dân ta và các đại biểu đã biết là Bầu Kiên đã kiếm được 1.750 tỷ từ thương vụ thu xếp 5.000 tỷ đồng mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình chuyển cho BIDV với chỉ đạo phải chuyển cho NH Phương Nam vay. Trầm Bê đã chuyển vào tài khoản cho Kiên đầy đủ với Memo khác; chuyển tiền mua cổ phiếu mà chẳng có cổ phiếu nào được mua bán. Lại còn lập trên 50 công ty con rút tiền của Eximbank, Vietbank, Kiên Long Bank, ACB, Phương Nam Bank lên tới 70.000 tỷ đồng trong hàng chục năm qua trá hình dưới dạng đầu tư vào công ty con, vào dự án, vào chứng khoán để không phải trả lãi…

Đại biểu Đương đã nói đúng hai nguyên nhân dẫn đến nợ xấu là do có sự cố tình thao túng thị trường tín dụng và hiện tượng cố ý làm trái pháp luật. Vì Nhà nước cho phép mở ra các loại hình kinh doanh tiền tệ tràn lan, lẫn lộn tiền với hàng, tiền với tài sản, tiền biến thành hàng hóa, thanh tra, kiểm toán thì lớt phớt, các báo cáo của cả hệ thống ngân hàng và cơ quan chuyên môn,cán bộ chuyên trach không trung thực mới sinh ra nhiều nợ xấu đến như vậy. Cạnh tranh giữa các ngân hàng, các công ty kinh doanh, cho thuê tài chính càng gay gắt thì đồng tiền ngày càng bị mất giá, nguy cơ lạm phát thêm tiềm tàng.

Thời gian qua, dư luận dồn dập nhận các thông tin liên quan về những khoản nợ xấu của các ngân hàng khi doanh nghiệp phá sản, “biến mất” cùng những khoản nợ hàng nghìn, thạm chí hàng chục nghìn tỷ đồng. Những thông tin trên đang đặt ra nhiều lo ngại rằng, với hơn 48.700 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động từ đầu năm đến nay, sẽ còn bao nhiêu vụ phá sản, vỡ nợ tương tự, tác động xấu đến hoạt động của các ngân hàng thương mại?

Những hệ lụy của nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế là điều không phải bàn cãi, nhất là khi tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng và nền kinh tế còn nhiều khó khăn.

Bên cạnh khó khăn chung của nền kinh tế, nguyên nhân chính làm gia tăng nợ xấu xuất phát từ chính các ngân hàng. Do đó, tìm kiếm giải pháp nhằm chặn đà tăng của nợ xấu, giảm thiểu tác động bất lợi của nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế phải bắt đầu từ chính các ngân hàng, đồng thời không xem nhẹ nguyên nhân từ chính sách phân bổ, quản lý, điều hành chung.

Sau khi xem trực tiếp phiên chất vấn chiều 21-8, ông Võ Thành Thống, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ, đã từng nhiều năm làm giám đốc Sở Tài chính, nói rằng: “Có lẽ do thời gian ít, hoặc có sự né tránh  nào đó, người ta chưa đề cập đến tình trạng tiêu cực kiểu “đi đêm” của các ngân hàng. Đó là tình trạng cho vay tràn lan, không định mức, thiếu thẩm định kỹ trước khi cho vay. Đó là tình trạng ngân hàng bị lợi dụng rất nhiều, cán bộ ngân hàng được (cho phép, hợp pháp hóa) gia tăng các khoản thu và giàu lên rất nhanh. Có những người trong tay không có được bao nhiêu tài sản thế chấp, nhưng do biết “đường dây” do biết cách “đi đêm”, đã xoay xở, mánh lới, câu móc vay của ngân hàng cả nghìn tỉ đồng.

Tài sản thế chấp có khi trị giá 1, nhưng do tiêu cực hoặc quan liêu, vô nguyên tắc trong khâu kiểm tra, thẩm định, do thỏa thuận “ăn chia”, hoa hồng hoa sói đã cho vay vượt lên giá trị tài sản thế chấp tới 3 đến 4 lần, số tiền rất lớn. Có những người lập “dự án ảo” để lấy đất thế chấp, lập “công ty ma” để vay tiền ngân hàng mà nhanh chóng mang danh đại gia, nhưng đó hoàn toàn là tiền Nhà nước, thực chất là tiền của dân. Đại gia chỉ biết tìm cách moi tiền ngân hàng càng nhiều càng thấy còn ít, không sản xuất kinh doanh thực sự, làm sao có tiền trả vốn và lãi suất, sinh nợ đìa ra, không khả năng thanh khoản. Tài sản thế chấp đã vậy, nay con nợ “cao chạy xa bay rồi”, trốn biệt tăm mất dạng rồi, có đem ra định giá “phát mại” thì liệu thu về được bao nhiêu? Có những tòa biệt thự xây lên chỉ để làm “cò mồi”, để cùng lúc móc nối nhiều ngân hàng đến “mục sở thị” thẩm định tài sản thế chấp rồi cho vay, không phải 70% giá trị tài sản mà lập hồ sơ đánh giá tài sản lên mấy lần, cho vay thêm cấp số cộng theo kiểu “xâu mánh” nữa. Tiền Nhà nước chảy hết vào các lỗ hổng kiểu đó thì lấy gì để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân?

Nhiều cử tri ở quận Ninh Kiều (T.p Cần Thơ) cũng cho rằng: Có đại gia lại vay tiền ngân hàng rồi đổi ra USD, vàng, chuyển ra nước ngoài mở công ty, “xây tổ” lâu dài bên đó, đẩy giá vàng, ngoại tệ trong nước lên cao. Khi đụng chuyện là chạy trốn ra nước ngoài để hưởng nguồn tài chính do lừa đảo mà có.  Đó là lối ăn cướp giữa ban ngày. Nhiều đại gia chơi mánh như thế dẫn tới hiện trạng các ngân hàng chịu bó tay lắc đầu trước những món nợ kếch sù khó đòi, bị trắng mắt ra với nợ xấu. Sự cố tình vượt qua các nguyên tắc, cho vay theo kiểu “ăn chia hoa hồng” giữa ngân hàng với khách hàng là thủ đoạn “đi đêm” chiếm dụng tiền Nhà nước, coi như sự cố tình tham nhũng có tổ chức. Ngân hàng nào do làm ăn tùy tiện, sai quy định của ngành và sai pháp luật, bị nợ xấu thì cần phải làm rõ và  truy tố, tịch thu gia sản, bắt đền tiền cho Nhà nước, không có chuyện Chính phủ bỏ tiền Nhà nước ra để cứu vớt. Tiền Nhà nước ở đâu mà có? Suy cho cùng đó là tiền thuế của dân, tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân.

Phải ngăn chặn từ gốc các nguyên nhân khiến phát sinh tình huống nợ xấu,  cái gọi là “quản trị rủi ro” đã có sự thỏa hiệp vùi lấp, xử nhẹ, hoặc cố tình mở lối thoát, bỏ qua. Những trường hợp ngân hàng phân phối lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp được xem   như “sân sau” là một ví dụ. Rất khó để kiểm chứng mức độ tuân thủ các chuẩn mực, nguyên tắc về “quản trị rủi ro” khi ngân hàng và doanh nghiệp “tuy hai mà một”. Các “rủi ro đạo đức” khác trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng được nhắc tới nhiều trong thời gian qua.

Quan hệ tín dụng luôn có hai chủ thể là người vay (doanh nghiệp – DN) và người cho vay (NH). Vậy, khi nợ xấu xảy ra, trách nhiệm trước hết được quy ngay vào việc quản lý yếu kém của hai chủ thể kinh tế này. Cho nên, rất cần siết chặt các nguyên tắc trong các vụ việc thất thoát có chủ đích được gọi là “quản trị rủi ro” của hệ thống ngân hàng, không kể đó là ngân hàng ở quy mô nào. Đây là nguyên nhân gốc và căn bản khiến cho tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi tăng cao.

Thực tế cho thấy, các ngân hàng thương mại đã bước đầu tăng cường đầu tư cho công tác quản trị rủi ro, nhưng kết quả đạt được còn khiêm tốn. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, việc rà soát, bóc tách các đối tượng khó khăn, có nhu cầu và năng lực sử dụng vốn thực sự để các khoản vay đến đúng đối tượng và đạt hiệu quả là rất cần thiết. Ngược lại, cần kịp thời xử lý các dự án lớn nhưng triển khai kém hiệu quả, kéo dài, gây tồn đọng vốn, thậm chí lâm vào tình trạng không trả được nợ.

Nếu Công ty Mua bán nợ quốc gia hoạt động theo nguyên tắc kinh doanh trên thị trường như cơ chế mua bán nợ thông dụng trên thế giới thì xã hội không có lý gì không đồng thuận. Song, nếu công ty này trở thành cái túi hứng nhận nợ xấu cho hệ thống NH, số người phản đối sẽ nhiều, bởi nếu làm thế có nghĩa là Nhà nước lấy tiền thuế của dân để trả nợ xấu, trong khi các đại gia NH, những người phải chịu trách nhiệm về nợ xấu lại vô can. Cần tách hoạt động kinh doanh của Công ty Mua bán nợ quốc gia với những hỗ trợ trực tiếp, minh bạch của Nhà nước đối với các trường hợp cụ thể cần hỗ trợ. Đây hoàn toàn không phải giống kiểu “cầm đồ” như cái cách ví von lý giải của ông Thống đốc Bình trước các đại biểu  Quốc hội.

Trong những nguyên nhân chính của nợ xấu là công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia, sự lợi dụng bằng nhiều thủ đoạn chiếm dụng tiền Nhà nước theo kiểu hợp pháp hóa, chính sách hóa, sự kéo bè kết cánh đánh lừa bằng các thống kê, báo cáo thiếu trung thực trên báo cáo văn bản và mạng LAN. Thực tế tiền mặt chỉ được thể hiện những con số khô khan trên giấy, trên máy, không có thực vì đã chui vào các ngõ ngách chiếm dụng, tham nhũng, thao túng đầy tính toán mưu mô. Công tác thanh tra, kiểm toán, giám sát còn buông lỏng và trở thành hình thức, đối phó, thậm chí còn lợi dụng tung chưởng thả câu, “đục nước béo cò”.

Cạnh tranh kinh doanh tài chính, tiền tệ và việc chi dùng đồng tiền NHNN hiện nay cần phải minh bạch, quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát chặt chẽ, lành mạnh, công bằng, đúng pháp luật. Theo đúng phương pháp khoa học quản lý kinh tế vĩ mô, đúng pháp luật, khi ngân hàng hoặc đơn vị kinh doanh tài chính nào do kém cỏi, hoặc quản lý tồi, để bị mất vốn mất lãi, thất thoát đến mức phải “sập tiệm” thì cần điều tra xác minh làm rõ nguyên nhân, nếu đã “chết” rồi thì “khai tử” luôn, đồng thời phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thu lại tiền cho Nhà nước, bồi thường tiền cho khách hàng, nhất là nhân dân lao động, không nên vì lý do nào đó mà lấy tiền của dân để bù vào các khoản thâm thủng đã nằm gọn trong túi riêng của các đại gia lừa đảo, cố ý làm trái để vụ lợi cho cá nhân và nhóm lợi ích.

Bùi Văn Bồng

Ngân hàng đi… gửi tiền

Thử “lục” vào báo cáo tài chính của một số ngân hàng (NH) lớn hiện nay để tìm hiểu đường đi của vốn sẽ thấy một bức tranh rất chua chát. Đó là các NH, với chức năng cho vay nhưng thực tế, lại đi gửi tiền với số lượng lớn. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến vốn không thể chảy vào sản xuất.

Còn nhớ đầu tháng 6, tại phiên họp Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình công bố, đã bơm ra thị trường một lượng tiền “lớn khủng khiếp”, lên tới 180.000 tỉ đồng. Trước đó trong tháng 2, NHNN cũng “bơm” 60.000 tỉ đồng cho nông nghiệp, nông thôn. Nhiều người không khỏi kinh ngạc và giật mình trước con số trên bởi bơm lúc nào, bơm vào đâu, lãi suất bao nhiêu, lượng tiền này “chảy” đến địa chỉ nào… hầu hết không ai biết.

Thị trường 2 được buông lỏng hoàn toàn

Ông Nguyễn Trí Hiếu phân tích: “Trong khi thị trường 1 (huy động vốn trong dân cư) bị quản lý rất chặt thì thị trường 2 (thị trường liên NH – nơi các NH vay vốn của nhau) lại được buông lỏng hoàn toàn. Dù có quy định về phân loại nợ theo nhóm giống như thị trường 1 nhưng không NH nào thực hiện, không hề có số liệu về nợ xấu từ chính các khoản vay của NH. NH có tiền, gửi vào NH thiếu thanh khoản. Tới hạn không trả được thì gia hạn, thực ra là đảo nợ. Nên nợ trên thị trường liên NH không chỉ lớn mà còn rất xấu. Con số nợ xấu mà NHNN công bố 202.000 tỉ đồng chỉ là nợ xấu của DN chứ chưa hề tính đến nợ xấu của NH. Đây chính là quả bom nổ chậm mà chúng ta cần phải minh bạch để tìm cách gỡ bom”.

Càng ngạc nhiên hơn khi tiền được bơm ra thì theo nguyên tắc, lãi suất sẽ phải giảm, sản xuất, kinh tế phải được kích hoạt. Nhưng thực tế cho thấy, cho đến tận lúc này, lãi suất vẫn cao, DN vẫn không tiếp cận được vốn, hàng tồn kho tăng cao, sản xuất đình đốn…

Vốn chạy lòng vòng trong hệ thống

Theo báo cáo tài chính quý 2/2012 của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng là 105.746 tỉ đồng; Ngân hàng TMCP Á Châu là 56.568 tỉ đồng; Ngân hàng Quân đội là 36.627 tỉ đồng; Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là 21.308 tỉ đồng….

Tiền gửi này không chỉ để đáp ứng thanh toán lẫn nhau mà còn cả tiền gửi có kỳ hạn dài. Điều này cho thấy, các NHTM lớn không nỗ lực đẩy tín dụng ra nền kinh tế mà chỉ chăm chăm mang tiền đi gửi ở các tổ chức tín dụng khác để kiếm lời. Cách gửi và cho vay kiểu này thường mang danh nghĩa cứu thanh khoản, hỗ trợ thanh khoản nhưng thực ra là để hưởng lãi suất cao. Có nghĩa là, vốn chạy từ NH này sang NH khác, từ NH thừa vốn sang NH thiếu vốn. Vốn chạy lòng vòng trong hệ thống NH chứ không hề chạy vào sản xuất, chạy vào nền kinh tế như mục tiêu của Chính phủ. Đó cũng là nguyên nhân của nghịch lý, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm vẫn âm dù tiền bơm ra “ngập” hệ thống như nói trên.

Con số trên cũng lý giải cho tình trạng các nhà băng kêu ứ vốn, không cho vay được nhưng lợi nhuận vẫn tốt. Nên nhớ, với khoảng 90% doanh thu, lợi nhuận có được từ tín dụng, nếu NH không cho vay được, lợi nhuận phải thấp, hoặc âm. Nhưng kết quả kinh doanh của nhiều tổ chức tín dụng thì ngược lại. Đó là nhờ “xiết” DN với lãi suất cao và như phân tích trên, họ còn tự “xiết” nhau trên thị trường liên NH (nơi các NH có thể vay vốn của nhau). Chẳng thế mà có lúc, lãi suất trên thị trường này “nóng hơn lửa” khi bị đẩy lên tới 30 – 35% trong năm 2011.

Câu hỏi là tiền gửi đó lấy từ đâu? Đó có phải là những NH được bơm vốn hay không? Nếu có, thì điều kiện, tiêu chí, giá trị tiền, lãi suất bao nhiêu? NHNN có giám sát số vốn bơm qua các NH xem thực sự chảy đi đâu hay không ? Dư luận cần một câu trả lời cụ thể, minh bạch.

Sao phải đi đường vòng ?

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính, người sáng lập NH Việt đầu tiên ở Mỹ (First Vietnamese – American Bank) thị trường liên NH hiện nay hoàn toàn bị bỏ ngỏ, việc cho vay rất dễ dãi nên các NH cho vay lẫn nhau rất nhiều.

Theo thông lệ, NH trung ương sẽ trực tiếp bơm vốn xuống các NH hụt thanh khoản với những điều kiện cụ thể. Nhưng ở ta, việc này lại được thực hiện thông qua các NH trung gian. Các NH hụt thanh khoản, do không tiếp cận được vốn từ NHNN một cách công bằng đành phải chạy lên thị trường liên NH cầu cứu các NH có tiền và chấp nhận lãi suất cao. Tất nhiên, các NH có tiền, chẳng dại gì từ chối miếng ngon này. Nên mới dẫn đến nghịch lý, NH thay vì cho DN, người dân vay vốn đúng chức năng, nhiệm vụ của mình thì lại lao vào gửi tiền, cho vay tiền các tổ chức tín dụng khác kiếm lời. Thanh khoản tiếp tục thiếu hụt, các NH không có tiền trả cho nhau. Dẫn tới chuyện ngược đời, NH cho nhau vay vốn cũng đòi tài sản thế chấp. Trong khi nguyên tắc của thị trường này là hoạt động dựa trên chữ tín. Các NH vay/gửi qua đêm, gửi thời hạn ngắn để đáp ứng thanh khoản nhau đều dựa vào tín chấp, dưới sự giám sát của NHNN. Khi chữ tín trên hệ thống không còn, lãi suất “trục lợi” nhau càng cao. Bức tranh liên NH méo mó, NH mạnh sống trên cơ thể của NH yếu.

Tại sao NHNN không bơm vốn trực tiếp xuống các NH hụt thanh khoản mà lại đi đường vòng, bơm gián tiếp qua một NH khác? Bơm qua NH trung gian, đương nhiên phải có chênh lệch lãi suất, chênh lệch này là bao nhiêu? Trong khi nếu làm trực tiếp, NHNN có thể hạn chế nhiều vấn đề để giúp NH hụt thanh khoản tự chỉnh đốn mình. Đơn cử như hạn chế, thậm chí không cho tăng trưởng tín dụng mới, tiền thu về để trả nợ….

Việc thiếu minh bạch trong tái cấp vốn của NHNN là nguyên nhân chính khiến các NH không có động cơ bơm vốn ra nền kinh tế, gây rối loạn thị trường liên NH. Nếu không “vá” được lỗ rò này, vốn khó có thể chảy vào nền kinh tế và lãi suất cũng rất khó có đường để hạ theo mục tiêu của Chính phủ.

Nguyên Khanh

Tagged: