Buôn lậu lao động Việt: Tàn nhẫn và nghiệt ngã

Posted on September 23, 2012

0


Người mẹ (trẻ) ở một làng quê nghèo của Nghệ An đau đớn tột cùng, ngất lên, ngất xuống khi nghe tin dữ: Hai đứa con đi xuất khẩu lao động chưa đầy hai tuần vừa bị chết cháy trong một xưởng may ở Nga, cùng với 12 người khác vào đêm 11/9 vừa qua. Người cha (chưa già) bàng hoàng, thảng thốt, không tin được đó là sự thật: Oan khiên, khổ ải sao lại cứ trùng trùng, điệp điệp thế chứ; nghèo khổ quá, cố vay tiền (50 triệu) gửi con đi tha phương cầu thực cũng chính là vô tình đưa hai đứa con vừa tròn 19, 20 tuổi vào… cõi chết.

Tiếng khóc thét xé lòng của người mẹ làm náo động không khí vốn lặng lẽ của làng quê Việt. Vẻ tang thương, bế tắc trên gương mặt người cha phủ trùm thêm vẻ thê lương lên làng quê Việt vốn đã khá vắng vẻ, tiêu điều từ lâu lắm – kể từ lúc những người phụ nữ trẻ làm những cuộc vong thân để… kiếm chồng xứ lạ. Trong khi có rất nhiều những người dân Việt vô tâm, nhắm mắt để ru mình vào trong cơn mê hoang tưởng rằng cả đất nước đang sống trong thanh bình và hạnh phúc, thì trải dài từ Bắc chí Nam, tồn tại sờ sờ ra đó vô số những làng quê Việt nghèo khó, xác xơ và bế tắc đến tận cùng.

Không nghèo khổ, không bế tắc đến tận cùng thì có ai là đàn bà, con gái Việt lại phơi thân lõa lồ chỉ để được làm một cuộc vong thân như nàng Kiều Nguyệt Nga xưa, bước lên tàu sang Phiên Quốc để cứu rỗi giang sơn. Sau các nàng, làng quê Việt lại càng vắng vẻ hơn khi rồi đến phiên các chàng trai trẻ cũng đi: Đi để tha phương cầu thực. Đi như một cứu cánh sau cùng. Và bằng sự lựa chọn để ra đi theo cách đó (xuất khẩu lao động), họ đã đặt cuộc đời mình lên trên bàn cân rủi may của số phận. Điều đau đớn cần nói ở đây là: Cái rủi lại nhiều hơn. Nhiều người trong số họ đã trở thành những chàng Kinh Kha, một đi không trở lại. Chung qui cũng chỉ vì nghèo, vì đói.

Cái sự thật nào ẩn náu đằng sau vụ chết cháy của 14 lao động Việt ở một xưởng may dệt của người Việt trên đất Nga vào đêm 11/09/2012? Cái sự thật mà không phải ai cũng biết đó là: Họ đã bị lường gạt và trở thành những nô lệ lao động. Vào lúc hỏa hoạn xảy ra, họ đang bị khóa giam ở lầu hai của xưởng may. Họ, cùng với nhiều người khác, đã là nạn nhân của một đường dây buôn lậu lao động Việt sang Nga, hoạt động theo hình thức tội phạm có tổ chức, với sự thông đồng và bao che của những nhân viên và quan chức có quyền ở VN, cũng như một số cảnh sát Nga ở cấp địa phương. Khi đã bị lường gạt và được đưa đến Nga, cũng là lúc họ bắt đầu bị kiềm tỏa và bóc lột bởi chính người Việt – những chủ nhân ông của những cơ sở sản xuất kinh doanh trên đất Nga.

Nỗi đau của bà Phan Thị Tuyết, mẹ nạn nhân Đặng Quang Ngọc (Ảnh: Vietnamnet)

Đến lúc này có biết thì cũng đã muộn. Nếu họ lên tiếng tố giác, thân nhân của họ ở VN sẽ bị đe dọa hãm hại. Nếu họ may mắn trốn thoát được và trở về được VN, thì trong nhiều trường hợp, họ lại tiếp tục bị điều tra, theo dõi và sách nhiễu. Còn nếu không may bị cảnh sát Nga bắt dính thì họ sẽ bị đánh đập và giao trả về cho chủ cũ để tiếp tục làm việc khổ sai. Hiện nay, có khoảng 3.000 cơ sở may dệt do người Việt làm chủ ở Nga và một số không nhỏ trong con số đó hoạt động phi pháp hay hợp pháp chỉ trên danh nghĩa. Chính những cơ sở này là nguồn cầu cho nạn buôn lậu lao động Việt, tham gia trực tiếp vào việc ngược đãi và bóc lột họ. Bên cạnh kỹ nghệ may dệt, các cơ sở thầu xây cất ở Nga của người Việt cũng dính líu vào tệ nạn buôn người này. Và dù tệ nạn này diễn ra ở nhiều nước, các nạn nhân ở Nga được cho là bị đối xử tồi tệ và tàn nhẫn hơn cả.

Các nạn nhân bị rơi vào vòng cương tỏa của những đường dây buôn lậu người này thường bị đối xử theo cái cách rất chung là: Ngay khi đến phi trường của nước ngoài, họ lập tức bị tịch thu giấy tờ tùy thân và điện thoại di động. Sau đó, họ được đưa đến những nơi cư ngụ cách biệt với thế giới bên ngoài (để giam giữ) với điều kiện sinh hoạt rất tồi tệ (không máy sưởi, không máy điều hòa), ăn uống thiếu thốn và không có bảo hiểm sức khỏe. Họ bị bắt lao động quần quật thường là trên 15 giờ một ngày. Tuy vậy, đó chưa phải là những điều tồi tệ nhất. Lao động như thế nhưng họ không được trả lương sòng phẳng, thậm chí còn bị chủ gán nợ tùy tiện lên đầu. Hết thời hạn hợp đồng, nhưng vì không thể trả hết những món nợ tùy tiện này, nhiều người đã không thể trở về quê. Đến khi được trở về thì lại phải tự túc vé máy bay.

Bên cạnh đường dây buôn lậu người Việt sang Nga và một số nước khác (đã lộng hành trong suốt một thập kỷ qua), không kém phần tàn nhẫn và nghiệt ngã, phải kể đến đường dây buôn lậu các cô gái Việt vào các ổ mại dâm trên đất Malaysia, Trung Quốc, Campuchia…. Các đường dây này thường đều do chính người Việt điều hành (có khi ở cả hai đầu như ở Malaysia). Họ tuyển dụng một số người môi giới để dụ dỗ các cô gái nhẹ dạ, nghèo khổ (thường là các cô thôn nữ) đang có nhu cầu giúp đỡ gia đình. Những cô gái này được hứa hẹn một công việc với thu nhập tốt trên đất người, để rồi khi đến nơi, họ mới ngỡ ngàng mà nhận ra rằng: Mình đã trở thành những nàng Thúy Kiều thời hiện đại.

Các cô gái bị lừa sang Malaysia bị giam cầm và bị buộc phải lựa chọn hoặc làm gái mãi dâm, hoặc lấy chồng người Mã để trả món nợ của mỗi người là 10.000 đô (Mã) về vé máy bay và các chi phí trong dịch vụ. Mỗi một phụ nữ nạn nhân Việt thường được rao bán với giá từ 18.000 đến 20.000 đô (Mã). Các phụ nữ Việt bị lừa bán sang TQ còn bị đối xử tàn tệ hơn: Có cô gái 16 tuổi bị buộc phải tiếp đến 40 lượt khách mỗi ngày, mọi sinh hoạt hàng ngày đều bị giám sát chặt chẽ bởi những tên côn đồ hung dữ, bị đánh đập dã man nếu bị phát hiện lén lút sử dụng điện thoại, bị tước đoạt mọi tiền của kiếm được… Theo thống kê của Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới và Quỹ Nhi Đồng LHQ (UNICEF) năm 2004, có khoảng 17.000 trẻ em VN bị bắt làm nô lệ tình dục ở đất nước Campuchia.

Trong số các loại nạn nhân, có lẽ nạn nhân của tệ nạn buôn lậu người Việt là đáng thương và xót xa hơn cả. Nói thế là vì họ hai lần làm nạn nhân của những gì tàn nhẫn và nghiệt ngã nhất. Lần đầu tiên, họ là những nạn nhân nghèo khổ và bế tắc tận cùng của một xã hội “thổ tả” khốn cùng (mà mỉa mai thay, lại được tự hào là: Được lãnh đạo bởi những “đỉnh cao trí tuệ” của loài người). Chính sự nghèo khổ và bế tắc tận cùng ấy đã dẫn dắt họ vào con đường trở thành miếng mồi ngon của những kẻ tán tận lương tâm. Lần thứ hai, không kém phần đau đớn, những kẻ tán tận lương tâm ấy – những kẻ sẵn sàng bán tất cả mọi thứ trên cõi đời này ấy, những kẻ đã khiến họ phải thêm một lần nữa trở thành nạn nhân ấy – lại chính là những người Việt đồng chủng của họ.

Có lẽ hiếm có dân tộc nào lại phải chịu nhiều điều đau thương và nghiệt ngã đến thế như dân tộc VN. Có lẽ hiếm có một định mệnh dân tộc nào lại buồn đến thế như định mệnh VN.

Bao giờ định mệnh ấy sang trang để toàn dân tộc VN có được một ngày cùng vui?

Thiết nghĩ đó là câu hỏi bức thiết nhất dành cho mọi người dân Việt còn có chút lương tri ở thời điểm hiện tại: Bao giờ đây, phải làm gì đây và làm như thế nào đây?

Jeffrey Thai

DÒNG SỰ KIỆN
>> Xuất ngoại “chui” như… đi chợ!
>> Đưa lao động sang Nga như “buôn người”
>> Vụ 14 người chết cháy: Cả họ quấn khăn tang

>> Ảo vọng phương xa
>> Bị kịch làm dâu xứ người

>> Nóng bỏng nạn buôn người – Kỳ 5: Những cuộc giải cứu
>> Nóng bỏng nạn buôn người – Kỳ 4: Chạy trốn khỏi “động quỷ”
>> Nóng bỏng nạn buôn người – Kỳ 3: Nô lệ tình dục
>> Nóng bỏng nạn buôn người – Kỳ 2: Nạn nhân thành thủ phạm
>> Nóng bỏng nạn buôn người

Hoa Kỳ mong muốn hợp tác với Việt Nam để chống nạn buôn người

Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln ra Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ (22-9-1862 – 22-9-2012) – bước đầu tiên của việc chính thức bãi bỏ chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear đã có một vài chia sẻ về vấn đề “Nô lệ con người xưa và nay”.

Đại sứ David Shear trong một buổi ca nhạc tổ chức tại Việt Nam nhằm chống nạn buôn bán người.

Đại sứ David Shear cho biết: “Cuộc nội chiến Mỹ đã để lại một di sản, đó là sự khẳng định: nô dịch người khác là điều không thể chấp nhận được. Lịch sử nước Mỹ có nhiều câu chuyện phong phú về những người đã đấu tranh cho niềm tin rằng tất cả mọi người đều được sinh ra bình đẳng. Hiến pháp của chúng tôi coi trọng và bảo đảm nguyên tắc này. Ngoại trưởng Clinton đã gọi nạn buôn người là “chế độ nô lệ hiện đại”. Con người không thể bị mua hoặc bán, mỗi cá nhân đều có quyền hưởng hạnh phúc và cuộc sống không bị ảnh hưởng bởi sự giam cầm hoặc chế độ nô lệ”.

Cũng theo Đại sứ David Shear, Hoa Kỳ và Việt Nam đang tiếp tục hợp tác chặt chẽ để ngăn chặn nạn buôn người. Đây là một vấn đề song phương quan trọng đòi hỏi phải có một cách tiếp cận phối hợp, tập trung của cả hai chính phủ.

Đại sứ khẳng định: Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ca ngợi trong những năm gần đây về ngăn chặn nạn buôn người. Trong năm 2011, luật chống buôn người đã được thông qua và có hiệu lực vào tháng 1-2012. Việt Nam đã dành 15 triệu USD cho Kế hoạch Hành động Chống Buôn người Quốc gia giai đoạn 2011-2015 và đang trong quá trình ban hành các nghị định về thực thi luật.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã ghi nhận tiến bộ quan trọng này trong báo cáo thường niên của Hoa Kỳ về nạn buôn người. Việt Nam đã có bước đi quan trọng đầu tiên với việc thông qua luật chống buôn người để bảo vệ nạn nhân sống sót và trừng trị thủ phạm. Giờ đây, thực thi nghiêm luật này sẽ là điều thiết yếu để bảo vệ người dân và chiến đấu chống nạn buôn người. “Trong công cuộc này, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. Hoa Kỳ đã cung cấp hơn 1,3 triệu USD tài trợ cho các nỗ lực chống nạn buôn người trong hai năm qua. Chúng tôi tự hào về việc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID đã đồng tài trợ cho buổi hòa nhạc rock MTV EXIT vào ngày 26/5 tại Hà Nội để vận động việc chống nạn buôn bán người, và đã thu hút hơn 40.000 người tham dự”.

Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Lincoln là bước ngoặt trong việc bãi bỏ chế độ nô lệ và bảo vệ quyền con người của tất cả người Mỹ. Đại sứ David Shear mong rằng luật chống buôn người mới của Việt Nam và việc thực thi luật một cách mạnh mẽ sẽ là một bước ngoặt đối với Việt Nam. “Tôi mong muốn được mở rộng hợp tác giữa chúng tôi và Chính phủ Việt Nam, cũng như với cộng đồng các tổ chức phi chính phủ quốc tế để chống lại nạn buôn người và xoá bỏ nó khỏi Việt Nam cũng như ở trong khu vực” – Đại sứ nói.