Diễn biến và tự diễn biến hòa bình

Posted on October 10, 2012

1


Tháng 4/1994, trước làn sóng cách mạng dân chủ diễn ra tại Đông Âu, “diễn biến hòa bình” vốn là một đe dọa, đã được Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đưa lên hàng nguy cơ, và là một trong bốn nguy cơ hàng đầu trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ. Từ đó đến nay, đại hội X sang đại hội XI cũng như trong các văn kiện đảng, tập huấn, hội nghị, sách vở của nhà xuất bản chính trị quốc gia nhiều lần nhắc nhở đến nguy cơ này.

Theo Từ điển Bách khoa xuất bản tại Việt Nam 2005, diễn biến hòa bình được định nghĩa: “Diễn biến hòa bình chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến lược Diễn biến hòa bình là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản là phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa về các mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v… Phương thức và thủ đoạn chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ…”

Diễn biến hòa bình không phải là một chủ thuyết độc lập nhưng là một bộ phận của hai học thuyết đối ngoại thịnh hành của Mỹ sau thế chiến thứ hai là ngăn chận (containment) và đẫy lùi (rollback).

Tháng 2 năm 1946, George F. Kennan, nhân viên ngoại giao làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại Liên Xô, gởi Bộ Ngoại giao Mỹ một bản phân tích qua hình thức một điện tín dài 5.500 chữ, trong đó ông trình bày một cách chi tiết quan điểm của Stalin về tương lai nhân loại, mục tiêu và chiến lược của Liên Xô sẽ được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, điểm mạnh và điểm yếu của chế độ Cộng sản, đồng thời đề nghị một số biện pháp cần thiết phải được áp dụng để ngăn chận làn sóng Cộng sản. Chính sách đối ngoại chỉ đạo của Mỹ đặt cơ cở trên những phân tích của George Kennan được gọi là ngăn chận (containment).

Lý thuyết đẩy lùi (rollback) các ảnh hưởng của khối Cộng sản tại những nơi bị Cộng sản chiếm được phác họa trước hết nhắm đến các quốc gia Cộng sản chư hầu của Liên Xô tại Đông Âu. Người cổ võ mạnh mẽ nhất cho lý thuyết này là cố Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles .Trong lúc lý thuyết ngăn chặn nặng về phòng thủ, lý thuyết đẩy lùi nghiêng về phía phản công. Hai lý thuyết này chế ngự chính sách đối ngoại của Mỹ trong và cả sau chiến tranh lạnh, tùy thuộc hoàn cảnh chính trị tại mỗi quốc gia mà một hay cả hai chính sách được áp dụng.

Người đầu tiên gợi ý về diễn biến hòa bình là George Kennan và được ngoại trưởng Dean Acheson dưới thời tổng thống Harry Truman ủng hộ. Tuy nhiên người giải thích rõ quan điểm này cũng là John Foster Dulles. Trong một điều trần tại Quốc hội Mỹ 15 tháng Giêng 1953, Ngoại trưởng Dulles phát biểu: “Chúng ta phải luôn ghi nhớ đến việc giải phóng các dân tộc bị nô lệ. Tuy nhiên, giải phóng đây không có nghĩa là phát động chiến tranh giải phóng, có nhiều phương tiện khác hơn chiến tranh có thể được dùng để giải phóng”.

John Foster Dulles (1888-1959) giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower từ 1953 đến 1959. Ông là một chính khách có lập trường chống Cộng sản cương quyết, biện hộ cho chủ trương cứng rắn trong việc đối đầu với phong trào Cộng sản Quốc tế, nhất là với Trung Quốc và Liên Xô. Tại hội nghị Geneva 1954, được biết là ông đã từ chối bắt tay Ngoại trưởng Trung Cộng Chu Ân Lai. Với tư cách Ngoại trưởng, Dulles dành nhiều thời gian để xây dựng khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhằm chặn đứng sự bành trướng của Xô Viết sang Tây Âu. Tại viễn đông, Dulles vận động thành lập Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO).

Dulles cũng đưa ra hai chủ trương được gọi là “bên miệng hố chiến tranh” (brinkmanship) và trả thù ồ ạt (massive retaliation) để đặt các quốc gia Cộng sản tiêu hao tài nguyên nhân lực trong tình trạng thường trực chuẩn bị cho chiến tranh. Với Trung Quốc, Ngoại trưởng John Foster Dulles có thái độ chống đối ra mặt và có lần đã gọi chế độ Cộng sản tại Trung Quốc là “hiện tượng xấu”. Trong một diễn văn vào tháng Sáu 1957, ông còn nhấn mạnh “hiện tượng đó phải biến mất đi”. Ngày 11 tháng 8/1958, trong một thông cáo báo chí, Bộ Ngoại giao Mỹ dưới quyền John Foster Dulles xác định “Chủ nghĩa Cộng sản tại Trung Quốc không phải là vĩnh cửu và một ngày nào đó chế độ đó sẽ sụp đổ”. Ngày 24 tháng Mười 1958, trong một phỏng vấn dành cho đài BBC, Ngoại trưởng Dulles tiên đoán “Chủ nghĩa Cộng sản sẽ nhường bước cho một hệ thống mới quan tâm đến an sinh của quốc gia và con người”, “Cộng sản Trung Quốc và Cộng sản Nga không phục vụ lợi ích của con người” và “thứ Cộng sản đó sẽ thay đổi”.

Mao Trạch Đông, được biết là người đầu tiên diễn dịch quan điểm của Ngoại trưởng Dulles thành “diễn biến hòa bình”. Trước tình hình nội bộ đảng không bao giờ đoàn kết và quan hệ xấu dần theo giữa Trung Quốc với Liên Xô, “diễn biến hòa bình” trở thành mối bận tâm hàng đầu của Mao Trạch Đông. Theo hồi ký của Bạc Nhất Ba (薄一波), một trong Bát Bất Tử của đảng Cộng Sản Trung Hoa, nguyên Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Chủ tịch Ủy Ban Kinh Tế Nhà Nước, Mao tin rằng chính sách “diển tiến hòa bình” của Dulles đã bắt đầu có hiệu quả tại Liên bang Xô Viết qua việc Khrushchev chủ trương “sống chung hòa bình” với khối tư bản.

Các báo Hồng Kỳ và Nhân Dân đăng hàng loạt các bài bình luận tố cáo Khrushchev phản bội lý tưởng Cộng sản. Mao Trạch Đông tìm mọi cách để ngăn chận tình trạng mà ông ta kết án là Chủ nghĩa xét lại xảy ra tại Trung Quốc. Mao đọc các bài điều trần và diễn văn của Ngoại Trưởng Dulles từng chữ một. Việc Thống chế Bành Đức Hoài phê bình chính sách “Ba ngọn cờ đỏ” tại Hội Nghị Lư San càng làm cho Mao nghi ngờ thêm rằng các mầm mống của diển biến hòa bình đang phát sinh ngay trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc. Cũng theo Bạc Nhất Ba , tháng 11 1959, Mao triệu tập một phiên họp Bộ Chính trị thu hẹp để thảo luận về tình hình quốc tế. Trong dịp này Mao ra lịnh thư ký in và phân phối cho các thành viên tham dự phiên họp ba diễn văn quan trọng của Ngoại trưởng Dulles. Ba diễn văn đó gồm Chính sách đối với Viễn đông (Policy for the Far East) đọc tại Phòng Thương Mại California ngày 4 tháng 12, 1958, Bản điều trần trước Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 28 tháng Giêng 1958, và bài thuyết trình Vai trò của Luật pháp trong Thời bình” (The Role of Law in Peace) trình bày trước Hội Luật Sư New York ngày 31 tháng Giêng 1959.

Trong bài viết Đế quốc Mỹ, kẻ thù hung bạo nhất của loài người vào ngày 12 tháng Giêng 1964, Mao nhấn mạnh đến sự phát triển của diễn biến hòa bình tại Liên Xô: “Chính sách xâm lược và chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đe dọa một cách trầm trọng đến Liên bang Xô Viết, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Hơn nữa, nó đang mãnh liệt tìm cách đẩy mạnh chính sách “diễn biến hòa bình” tại các nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích tái lập chủ nghĩa tư bản và làm tan rã phe xã hội chủ nghĩa”. Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1967, Mao tập trung toàn bộ nỗ lực vào việc chống chủ nghĩa xét lại Xô Viết và thanh trừng các phần tử y cho là xét lại trong đảng Cộng sản Trung Hoa, đứng đầu là Thống Chế Bành Đức Hoài. Nhiều nhà phân tích cho rằng “ diễn biến hòa bình” đã đẩy Mao vào các hoạt động thanh trừng nội bộ đẫm máu trong thời gian đó, tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng Mao đã lợi dụng lý do chống diễn biến hòa bình để loại bỏ các phần tử chống y trong bộ chính trị.

Tuy nhiên, áp bức và đấu tranh là hai mặt biện chứng trong quy luật phát triển của xã hội con người. Một chủ nghĩa đi ngược tại đà tiến của văn minh, chà đạp lên giá trị con người chủ nghĩa đó phải sụp đổ. Đúng như John Foster Dulles nhận xét, sau khi các thế hệ cộng sản đam mê làm cách mạng sắt máu ra đi, các thế hệ chuyển tiếp và thứ ba, thứ tư đối diện với gia tài băng hoại về mọi mặt buộc họ hoặc phải thay đổi để duy trì quyền lãnh đạo hay phải chịu sụp đổ không tránh khỏi trước sức phản kháng của nhân dân. Nhiệt tình cách mạng xã hội chủ nghĩa và niềm tin vào một xã hội không giai cấp, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu là những chiếc bong bóng nước sau cơn mưa thời đại. Tuy mức độ nhanh chậm khác nhau, những cải tổ thuận theo hướng phát triển chung của nhân loại đã đồng loạt xảy ra. Nói như nhà bình luận chính trị Á Châu Frank Chinh, lãnh đạo các nước Cộng sản chọn “diễn biến hòa bình theo cách riêng của họ”.

Giống như Mao, Đặng Tiểu Bình lo ngại về “diễn biến hòa bình” nhưng khác Mao, y biết diễn biến là điều không tránh khỏi. Tháng 11/1989, họ Đặng nhận xét về viễn ảnh này: “Các nước Tây phương đang phát động một thế chiến thứ ba không khói súng. Họ muốn tạo ra một diễn biến hòa bình để đưa các nước xã hội chủ nghĩa sang tư bản chủ nghĩa”. “Đồng chí Giang Trạch Dân và cấp lãnh đạo trong chính phủ của ông, có thể được xem như thuộc thế hệ thứ ba, và sẽ có thế hệ thứ tư, thứ năm. Khi nào thế hệ già như chúng tôi còn sống, sẽ không có thay đổi. Nhưng khi chúng tôi chết hết, ai bảo đảm là sẽ không có diễn biến hòa bình?”. Mặc dù vẫn tiếp tục chống “diễn biến hòa bình”, các chính sách kinh tế, chính trị của Đặng Tiểu Bình và sau đó được Giang Trạch Dân kế tục qua chính sách Ba Đại Diện đã góp phần đẩy mạnh tự diễn biến hòa bình bởi vì như Đặng Tiểu Bình nói “Con người không thể ăn chủ nghĩa xã hội”.

Tại Xô Viết, sau khi Leonid Brezhnev chết ngày 10 tháng 11/982, Yuri Andropov nắm chức Tổng bí thư nhưng chỉ chưa được hai năm cũng chết vì bịnh suy thận giao quyền lại cho Konstantin Chernenko. Lúc đó Konstantin Chernenko đã 71 tuổi và cũng đang bịnh hoạn. Ngày 10 tháng 3/1985, viên tổng bí thư cực đoan bảo thủ này theo gót Leonid Brezhnev và Yuri Andropov về với Mác. Với sự ủng hộ của Andrey Gromyko, Bộ trưởng Ngoại giao lâu đời nhất trong lịch sử Xô Viết, Mikhail Sergeyevich Gorbachev lên nắm quyền không bị sự cản trở lớn nào. Trong lúc hầu hết các tổng bí thư trước đó sinh ra trước Cách Mạng Cộng sản 1917, Gorbachev sinh ra trong thời Cộng Sản, không mang trong người một dòng lý lịch vào tù ra khám nào và chỉ gia nhập đảng Cộng sản trong thời gian theo học Luật tại Đại Học Moscow. Ở tuổi 54, Gorbachev là ủy viên Bộ Chính trị trẻ tuổi nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng Giêng 1987, các cải tổ kinh tế (Perestroika) và cởi mở văn hóa chính trị (glasnost) tại Xô Viết bắt đầu. Ngày 26 tháng 11/1991, hệ thống Cộng sản Liên Xô chính thức sụp đổ.

Tại Việt Nam, mặc dầu các ý kiến về Đổi Mới Kinh Tế manh nha từ 1983, các chính sách đổi mới kinh tế mới thật sự bắt đầu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam 1986. Tại đại hội này, giới lãnh đạo đảng nhìn nhận các sai lầm kinh tế đã dẫn đến những khủng hoảng trầm trọng và cam kết từng bước thực hiện chính sách đổi mới nhằm theo đuổi “công nghiệp hóa-hiện đại hóa”. Mặc dầu chủ trương đổi mới nhưng thành phần Bộ Chính Trị được bầu ra trong đại hội VI đa số là những người rất cũ và rất bảo thủ như Phạm Hùng, Võ Chí Công, Đỗ Mười, Đồng Sỹ Nguyên, Mai Chí Thọ, v.v…Trong số 13 ủy viên Bộ Chính Trị, chỉ có Trần Xuân Bách chủ trương đổi mới theo mô hình Gorbachev trong đó đổi mới kinh tế phải tiến hành song song với đổi mới chính trị.

Trần Xuân Bách thận thức được sự vận hành của lịch sử. Ông hiểu rằng bài ca chiến thắng buổi sáng 30 tháng Tư/1975 đang trở thành bài ai điếu. Dân tộc Việt Nam đã chịu đựng quá nhiều, hy sinh xương máu quá nhiều. Đổi mới xã hội toàn diện sớm chừng nào tốt cho các thế hệ Việt Nam mai sau chừng đó. Nhưng giữa một đám bảo thủ chỉ biết bám vào chiếc bè quyền lực, quan điểm của Trần Xuân Bách trở nên lạc lõng. Giáo Sư Carl Thayer phát biểu với BBC sau ngày ông Trần Xuân Bách qua đời: “Cuối cùng Việt Nam đi theo con đường của Trung Quốc, nhấn mạnh đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế là lý do người dân cần phải theo đảng. Cải tổ chính trị, theo tôi, thì vô cùng chậm chạp. Và kể từ khi ông Trần Xuân Bách bị sa thải, Việt Nam cũng chẳng đẩy mạnh cải cách chính trị gì cả, và thậm chí số người bất đồng chính kiến có vẻ tăng lên, số vụ hà hiếp họ cũng tăng lên. Do vậy Việt Nam vẫn còn đi sau trong lĩnh vực cải tổ chính trị, và Đảng muốn kiểm soát chặt chẽ tiến trình này.”

Trần Xuân Bách chia sẻ quan điểm với Leonid Abalkinm, cố vấn kinh tế của Gorbachev: “Đổi mới sâu sắc trong quản trị kinh tế không thể thành thực tế nếu không có những thay đổi tương ứng với đổi mới trong chính trị”.

Trong bài phát biểu cuối năm 1989 trước khi bức tường Berlin đã sụp đổ, Trần Xuân Bách nói về dân chủ: ”Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ (mở rộng). Đó là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hóa là khơi động trí tuệ của toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại. Từ hai vấn đề đó, xẩy ra một vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”

Cũng vì “tấp tểnh đi một chân” mà sau 25 năm đổi mới, Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo và phát triển chậm so với hầu hết các quốc gia trong vùng như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, đừng nói chi là Singapore, Hàn Quốc. Nhìn lại đất nước trong từng lãnh vực, không có thành tựu nào đáng hãnh diện với thế giới. Những gì được gọi là thành quả thật quá nhỏ nhoi so với sự chịu đựng của dân tộc. Trong thống kê 2010 của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International), Việt Nam bị xếp vào hàng 116 trong tổng số 178 nước được thăm dò với chỉ số điểm vỏn vẹn 2.7 trên 10, cùng hạng với Ethiopia, Tanzania, Guyana.

Ngoài một xã hội bị tham nhũng đục khoét bên trong, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng trước nhiều đe doa, cô lập và lợi dụng từ bên ngoài. Mâu thuẫn giữa các quốc gia có quyền lợi kinh tế trong vùng biển Đông ngày càng gay gắt và không sớm thì muộn cũng sẽ dẫn đến chiến tranh trong khu vực. Và nếu đúng như vậy, giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam sẽ làm gì để bảo vệ được chủ quyền đất nước hay lại một lần nữa ném dân tộc vốn đã quá lầm than vào lò thiêu của tham vọng ngoại bang?

Từ Neville Chamberlain đến Richard Nixon, từ Franklin Roosevelt đến Herbert W. Bush, lịch sử nhân loại để lại vô số bài học về tham vọng đế quốc và số phận bất hạnh của các quốc gia nhược tiểu. Vì quyền lợi của đất nước, các cường quốc sẵn sàng bỏ rơi hay bán đứng đồng minh như Anh đã làm với Tiệp Khắc tại Munich 1938, Anh và Mỹ đã làm với Ba Lan tại Yalta 1944, Mỹ đã làm với Việt Nam Cộng Hòa tại hội nghị Paris 1973, hoặc phó mặc sinh mạng của những người đứng lên vì khát vọng tự do dân chủ làm mồi cho đoàn kên kên Xô Viết như trường hợp Hungary 1956, Tiệp Khắc 1968.

Tháng 4, 2006, Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN Nguyễn Dy Niên, trong cuộc phỏng vấn dành cho báo chí trong nước đã phát biểu về diễn biến hòa bình: “Trong các văn kiện của Đảng chúng tôi cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều học giả VN và nhà báo cũng đã nói đến diễn biến hòa bình. Đây không phải suy diễn mà là hiện tượng thực tế mà VN nhìn nhận. VN đang cố gắng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân, vì dân để người dân thực sự dân chủ. Tôi nghĩ là 4 nguy cơ VN đề ra, mà đẩy lùi được thì sẽ tăng được sự phát triển, nâng cao được Tòa Soạn. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy lùi tham nhũng thành công, theo tôi, sẽ là biện pháp ngăn chặn diễn biến hòa bình”. Khi được hỏi tiếp, ai là kiến trúc sư của “Diễn biến hòa bình”, Nguyễn Duy Niên thoái thác: “Có lẽ chúng ta không nên nói ai là kiến trúc sư mà chỉ nói những vấn đề mà VN phải xử lý. Đó là thách thức phải đối mặt và xử lý thế nào để vẫn giữ được bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của chế độ…”.

Câu trả lời của Nguyễn Dy Niên cho thấy, giới lãnh đạo Cộng sản Đảng Cộng sản thừa nhận có diễn biến hòa bình và đang chiến đấu trong tuyệt vọng để ngăn chận tiến trình này bằng các chính sách tự diễn biến nhằm “xây dựng nhà nước pháp quyền, đẩy lùi tham nhũng”. Thế nhưng, tình trạng tham nhũng chỉ là hiện tượng chứ không phải là bản chất của xã hôi. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng và ngày nào các cơ chế tạo điều kiện cho tham nhũng hình thành và phát triển còn tồn tại, tham nhũng sẽ không bị xóa bỏ tận gốc.

Một mặt đảng tiếp tục nhồi sọ sinh viên học sinh những mớ lý thuyết Mác Lê lạc hậu lỗi thời nhưng mặt khác tự diễn biến hòa bình để kéo dài sự sống. Trong dịp mừng sinh nhật Hồ Chí Minh 2010, Lê Hùng Nghĩa, trong phát biểu tại Học Viện Ngoại Giao, nhắc lại ngay từ năm 1946, trong đơn thỉnh nguyện Liên Hiệp Quốc ủng hộ Việt Nam vừa độc lập, ông Hồ đã viết “Việt Nam thu xếp các điều kiện ưu đãi đối với các nguồn đầu tư tư bản từ các nước”. Hồ Chí Minh, từ một “người Cộng sản quốc tế kiên cường” được diễn biến hòa bình sang một “nhà tư tưởng dân tộc” và hôm nay tiếp tục được diễn biến thành một nhà chủ trương tư bản hóa Việt Nam. Những năm tới sẽ là gì nữa?

Dù đã tìm mọi cách để bảo vệ “độc lập tự chủ của chế độ” như Nguyễn Dy Niên nói, hơn ai hết giới lãnh đạo Đảng biết không thể nào ngăn chận được bước chân của người khổng lồ cách mạng dân chủ đang sừng sững tới. Đến nhanh hay chậm, đến trong bối cảnh đầy máu mủ hay êm đẹp tùy thuộc vào điều kiện chính trị, lịch sử của mỗi quốc gia nhưng tự do dân chủ là tiến trình không thể nào lui. Bởi vì, diễn biến hòa bình không phải là ”chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế” hay “phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội”, nhưng là một bước phát triển có tính quy luật của văn minh nhân loại. Tiến trình dân chủ hóa đã diễn ra tại Liên Xô, Đông Âu, các quốc gia độc tài Bắc Phi, và sẽ đến Việt Nam.

Dòng tiến hóa của con người là một dòng sông không ngừng chảy. Từ giai đoạn sơ khai trên thượng nguồn Hy Lạp xa xôi, con người đang bước một sang giai đoạn thật sự làm chủ lấy mình. Các chế độ phong kiến hà khắc đã chìm sâu trong quá khứ, các chủ thuyết phi nhân đang bị xóa bỏ, các chế độ độc tài sắc máu lần lượt ra đi,. Theo tổ chức Freedom House, hiện nay có 117 trong số 191 quốc gia trên thế giới sống trong chế độ dân chủ, tuy mức độ còn ít nhiều khác nhau. Có quốc gia không may mắn phải đổ nhiều xương máu nhưng cũng có quốc gia may mắn, cách mạng đã diễn ra trong hòa bình. Cách mạng dân chủ tại Nam Phi 1994 và Nam Dương 1998 là hai bài học đáng lưu ý.

Năm 1974, lãnh tụ đảng Đoàn Kết Nam Phi Harry Schwarz và lãnh tụ da đen Mangosuthu Buthelezi cùng chia sẻ một nhận thức rằng chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi phải chấm dứt và việc giải thế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi là bước cần thiết đầu tiên để hòa giải quốc gia và xây dựng chế độ dân chủ Nam Phi. Hai nhà chính trị sáng suốt này đã ký kết một văn kiện lịch sử được gọi là Mahlabatini Declaration of Faith tại Mahlabatini, KwaZulu-Natal ngày 4 tháng Giêng/1974. Nội dung chính của văn kiện kêu gọi nhân dân Nam Phi thuộc mọi màu da, bộ lạc, đảng phái phải ngồi lại tìm một hướng đi tốt đẹp lâu dài cho đất nước, cùng soạn thảo một hiến pháp nhấn mạnh đến việc tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, nhưng quan trọng nhất văn kiện nhấn mạnh rằng các mục tiêu nêu trên phải diễn ra trong hòa bình. Sau giai đoạn hai mươi năm đầy khó khăn, thử thách cho đất nước và cho cả hai lãnh tụ, cuối cùng 1994, nhân dân Nam Phi đã thực hiện cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên.

Tại Nam Dương, sau 32 năm độc tài tướng Suharto đã buộc phải từ chức 1998. Nam Dương cần sáu năm và ba lần bầu cử để từng bước ổn định quốc gia. Theo giáo sư Ik rarnua Bhaki, tác giả của nghiên cứu “Chuyển tiếp đến dân chủ tại Nam Dương: Những vấn đề còn tồn đọng” ( The transition to democracy in Indonesia: some outstanding problems) trong thời gian năm năm sau khi Suharto bị hạ bệ, Indonesia có ba tổng thống B.J. Habibie, Abdurrahman Wahid, and Megawati Sukarnoputri, nhưng tất cả số đó đã được bầu lên hợp với các nguyên tắc dân chủ. Đại đa số dân chúng được hưởng các quyền tự do phát biểu, tự do thông tin, các quyền kiểm soát lẫn nhau giữa hành pháp và lập pháp được tôn trọng, và phi chính trị hóa các lực lượng võ trang. Mặc dù tiến trình dân chủ tại Nam Dương khó khăn hơn các quốc gia khác bởi vì không chỉ đương đầu với tàn dư của cơ chế độc tài mà còn phải vượt qua các trở lực cực đoan tôn giáo, các sinh hoạt dân chủ tại Nam Dương đã được cải thiện rất nhiều. Theo giáo sư Larry Diamond, đại học Stanford, trong một thống kê, trong mức thang từ 1 đến 10, với 1 tệ hại nhất và 10 là dân chủ nhất, những người dân Nam Dương tham dự thống kê đã trả lời 7, tức một mức độ dân chủ đáng ca ngợi.

Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục kết án “diễn biến hòa bình” nhưng họ quên rằng sự hiểu biết của người là nguồn thúc đẩy cho các thay đổi xã hội. Thời kỳ tẩy não con người bằng các lý thuyết Mác Lê đã không còn tác dụng. Nếu trước đây sự ngu dốt là bạn đường của chủ nghĩa Cộng sản thì ngày nay trình độ dân trí cao là kẻ thù không đội trời chung.

Tác giả Archie Brown, giáo sư chính trị học đại học Oxford, Anh quốc, trong tác phẩm Sự vươn lên và sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản (The Rise And Fall Of Communism) phát hành lần đầu 2009 đã nêu ra 8 lý do khiến chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, trong đó lý do hàng đầu không phải là kinh tế hay quân sự mà là sự thay đổi xã hội (Social Change). Theo giáo sư Archie Brown , năm 1939 tại Nga chỉ 11 phần trăm dân số học xong bậc tiểu học nhưng đến 1984 tỉ lệ đó đã tăng đến 87 phần trăm. Năm 1954 chỉ có 1 phần trăm dân số Liên Xô tốt nghiệp đại học nhưng đến 1984, tỉ lệ đó đã tăng gấp 7 lần. Trình độ giáo dục giúp cho người dân không những có khuynh hướng muốn tìm hiểu những gì khác hơn mà còn có ý nghi ngờ và từ chôi các kiến thức họ được chế độ trang bị. Sự chuyển hóa tri thức là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào.

Tương tự tại Việt Nam, cách đây 50 năm tại miền Bắc, nhiều người thật sự tin rằng đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam như nước với sữa, như máu với thịt, hay như Hồ Chí Minh nói “đảng là con nòi của dân tộc”. Cách đây 36 năm không ít người đã bừng tỉnh và nhận ra rằng chỉ vì mục đích Cộng sản hóa Việt Nam Đảng đã phản bội dân tộc, lợi dụng máu xương của những người ngã xuống vì khát vọng hòa bình, vì mơ ước đoàn viên, vì cơm no áo ấm. Và hôm nay, đông đảo nhân dân đã hiểu rõ cơ chế độc tài là trở lực duy nhất trên con đường dẫn đến một Việt Nam tự do, dân chủ, văn minh. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để tại Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.

Một sai lầm quen thuộc của các nhà độc tài là đánh giá thấp phản ứng của nhân dân và nghĩ rằng họ có thể duy trì bộ máy cai trị bằng bạo lực mà không cần thay đổi. Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam dựa vào tầng lớp bồi bút để binh vực phần lý luận, dựa bộ máy quân đội, công an để trấn áp đồng bào. Thế nhưng, đảng Cộng sản Liên Xô từng có cả một viện hàn lâm chuyên tập trung nghiên cứu lý luận Cộng Sản, Đông Đức có những binh đoàn được trang bị vũ khí hiện đại hơn quân đội Cộng Sản Việt Nam và Cơ quan Bảo vệ Nhà nước (The State Protection Authority) trực thuộc Trung ương đảng Cộng sản Hungary còn tinh vi hơn cả các cơ quan an ninh Việt Nam, và tất cả đều không cứu được đảng.

Bộ máy tuyên truyền của đảng luôn nhấn mạnh “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng” nhưng như cựu Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh phát biểu “Tôi đã từng nói: con giun xéo lắm phải quằn. Càng đàn áp thì phẫn nộ càng tăng và càng lan rộng. Có thể đến một lúc là không kiểm soát được”. Thật vậy, ngoài một số rất nhỏ cam phận cầm cờ khiêng kiệu, đại đa số những người lính, những công an Việt Nam vẫn là những thanh niên mang trong người dòng máu Việt Nam. Hầu hết sinh ra sau cuộc chiến, lớn lên trong cảnh đói nghèo, có nước mắt để khóc cho những đồng bào bị hải quân Trung Quốc bắn thủng ngực, có trái tim để biết hờn căm khi nhìn những hải đảo nhuộm bằng máu của ông cha nằm đang trong tay giặt, có niềm tự hào dân tộc để biết đứng lên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, có lòng tự trọng để biết tủi nhục khi phải đứng canh giấc ngủ cho các ủy viên trung ương bên ngoài những biệt thự cao sang xây bằng xương máu nhân dân.

Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vừa qua, tuy vẫn còn giới hạn nhưng đã có sự tham dự của nhiều thành phần dân tộc. Họ khác nhau về quá khứ nhưng rõ ràng đang hướng đến một tương lai. Đó là tương lai tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Không có con đường nào khác. Không có chọn lựa nào khác. Tự do dân chủ là vũ khí để đánh bại âm mưu bành trướng của Trung Quốc, là cánh cửa mở ra chân trời thịnh vượng cho nhiều thế hệ Việt Nam tương lai. Dân chủ không phải là một khái niệm tây phương, là sản phầm của “diễn biến hòa bình”, một “âm mưu đế quốc” mà là quyền của con người được sống, được tự do đi lại, tự do phát biểu, được quyền bầu cử người đại diện cho mình trong các cơ quan nhà nước.

Giá trị của một con người được thẩm định không phải ở chỗ người đó bị té ngã nhưng ở chỗ người đó biết đứng lên và đi tới. Dân tộc Việt Nam cũng thế, sau nhiều lần bị té ngã đang cố gắng đứng lên và đi tới cùng nhân loại. Không bằng những nhát búa của thanh niên Đông Đức khi đập võ bức tường Bá Linh hay những chiếc kèm của thanh niên Hungary khi cắt đứt hàng rào biên giới Áo Hung, nhưng bằng những giọt nước kiên trì của các thế hệ Việt Nam yêu nước, thành trì độc tài Cộng Sản sẽ bị xói mòn và tan vỡ.

Trần Trung Đạo

Việt Cộng “Tự” Diễn Biến Hòa Bình

Có nhiều người cho rằng, thuật ngữ “diễn biến hòa bình” được sử dụng tại Trung Quốc và sau đó mới du nhập vào Việt Nam. Nhưng chắc chắn là nó chỉ được “phát minh” sau khi Liên Xô và hàng loạt các quốc gia XHCN ở Đông Âu thoát khỏi chế độ cầm quyền của chủ nghĩa CS.

Ở Việt Nam hiện nay, trong một số văn kiện của ĐCS và trên các loại hình thông tin của họ, hàng ngày người ta rất hay nói tới vấn đề “diễn biến hòa bình”. Các “nhà ĐCS” coi vấn đề nói trên là một nguy cơ sụp đổ của chế độ CS tại Việt Nam, mà mầm mống nuôi dưỡng làm cho nguy cơ này thành hiện thực đó là: Nhà nước pháp quyền biến tướng, tham nhũng lộng hành, nhân dân không còn lòng tin vào chế độ CS nữa…

Thông thường một thuật ngữ dùng để đặt tên hoặc áp dụng cho một vấn đề nào đó, người ta thường chọn những ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, sao cho nó hàm chứa được bản chất vấn đề, nội dung, cũng như ý nghĩa của vấn đề ấy. Nhưng các cụm từ “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” khi đọc lên người ta có cảm giác rất mơ hồ, khó hiểu! Vậy diễn biến hòa bình là gì, tại sao ĐCSVN lại sợ hãi và lo lắng về điều này một cách quá mức như vậy?

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu thế nào là “diễn biến”?

Diễn biến là quá trình thay đổi về bản chất hoặc hiện tượng, trong một hiện tượng hay một sự việc cụ thể nào đó. Trình tự của diễn biến đôi khi do người ta sắp đặt, lập trình trước, nhưng cũng có nhiều trường hợp mà người ta không thể xác định được sự tuần tự trong tiến trình của nó. Trong đời sống tự nhiên, đời sống xã hội, trong nghiên cứu khoa học, và đời sống văn hóa vv.., luôn có sự diễn biến theo một quy luật xác định hoặc bất xác định nào đó.

Trong xã hội, diễn biến là một sự “vận động sống” cho phát triển. Người ta thường tìm cách làm chủ những diễn biến, lái chúng theo hướng có ích, nhưng đôi khi chúng lại vượt quá khả năng kiểm soát của con người. Bởi trong diễn biến, vì sự tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể, cho nên những tình huống mới, những sản phẩm (tinh thần, vật chất) trung gian mới, luôn xuất hiện.

Chính điều này đã làm cho sự diễn biến thêm đa dạng, phong phú, hàm chứa nhiều sự bất ngờ thú vị…

Một vế thứ hai của cụm từ “diễn biến hòa bình”, đó là “hòa bình”.

Thế nào là hòa bình? Câu này thật dễ, quá dễ! Nhiều người sẽ nói ngay lập tức như vậy. Nhưng thực ra hai từ “hòa bình” cũng chỉ mang tính chất tương đối. Người ta thường chỉ nghĩ rằng hòa bình là không có chiến tranh, không có cảnh đầu rơi máu chảy. Điều đó đúng nhưng chưa đủ! Trong một phạm vi nào đó thì sự hòa bình đồng nghĩa với sự bình yên, hòa thuận, đồng lòng trong đời sống cá nhân và xã hội. Nếu ai đã từng đọc tác phẩm văn học đồ sộ với khoảng trên 500 nhân vật, có tên gọi “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của L. Tolstoy – Đại văn hào người Nga, thì sẽ nghiệm thấy điều này.

Hòa bình, dù ở bất kỳ góc độ nào đi chăng nữa, cũng là điều mà ai cũng muốn có, vùng trời nào cũng muốn có, quốc gia nào cũng muốn có. Vậy tại sao lại có những người sợ hòa bình? Cụ thể hơn là sợ những “diễn biến trong hòa bình”?

Chúng ta đã biết rằng, chủ nghĩa CS chủ trương dùng bạo lực giết chóc để làm động lực cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Chuyện CNCS có những lúc đã áp đảo, khuynh loát nhiều nơi trên thế giới là chuyện bình thường trên con đường diễn tiến (và diễn biến), vận động của xã hội loài người. Và chuyện CNCS sụp đổ cũng là một quy luật đào thải bình thường, khi một cái gì đó không còn ý nghĩa thực tế và nó chẳng thể mang lại điều gì tốt đẹp thì người ta phải loại bỏ nó. Giống như trường hợp người ta mua chiếc xe đạp, sau một thời gian dùng nó người dùng thấy nó vừa cọc cạch, vừa chậm chạp, tốn sức, thì người ta phải vứt chiếc xe đạp đó ra thùng rác để mua một chiếc xe hơi (nếu có điều kiện và thời cơ), vừa sạch sẽ, chạy nhanh, lại an toàn văn minh lịch sự…

Chủ nghĩa CS nhuộm đỏ thế giới bằng máu và nước mắt, Miền Bắc Việt Nam (1954-1975) dám “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” (Hồ Chí Minh), dám “giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ…” (Tố Hữu), để chỉ với mục đích cuối cùng là thiết lập chế độ CS trên toàn cõi Việt Nam, dù hàng hơn 3 triệu con người đã phải bỏ mạng. Nhìn lại lịch sử, liệu chế độ CS có đủ đạo đức xứng đáng lãnh đạo đất nước khi họ đã giành lấy chính quyền từ tay đồng bào Miền Nam của mình bằng vũ lực?

Vậy nếu ngay bây giờ, những con người Việt Nam làm Cách Mạng Dân Chủ cũng cả gan như chủ nghĩa CS, nhưng lại giành lấy đất nước Việt Nam từ tay của chế độ CS bằng những diễn biến trong hòa bình không đổ máu, thì họ có đáng được hoan nghênh hay không? Liệu có phải chỉ người CS mới có quyền đấu tranh, có quyền làm cách mạng, còn những người có tư tưởng phi CS thì không có quyền ấy, mặc dù họ chỉ làm cách mạng trong hòa bình?

Nếu được phép coi nhân dân Việt Nam như là cô gái đẹp, một người này muốn giành lấy bằng cách khống chế, dùng bạo lực, một người khác thì chọn con đường thuyết phục, tặng quà, thể hiện và hứa hẹn cam kết những điều tốt đẹp. Vậy trong hai người nói trên, ai là người có chính nghĩa, ai là kẻ đáng bị lên án? Và nếu trong trường hợp cô gái nọ bị rơi vào tay kẻ xấu thì tình yêu của cô ta có thực sự dành cho kẻ đã chinh phục cô bằng bạo lực hay không?

Chế độ CS ở Việt Nam hiện nay có tâm lý giống như tâm lý của một tên kẻ cướp, sau khi cướp được món đồ quý, nay bị người ta phát hiện đòi lại, thì la toáng lên là “tôi bị oan”, “tôi sắp bị cướp” hòng đánh lạc hướng của người quan tâm. Nhưng thay vì dùng bạo lực để cướp lại món đồ, người ta đang cầu cứu mọi người ủng hộ và thuyết phục bản thân tên kẻ cướp hãy trả lại tài sản ăn cướp trước khi quá muộn. Và người ta đang dẫn chứng ra đầy đủ bằng chứng rằng tên kẻ cướp này đúng là kẻ cướp, nhưng hắn vẫn khăng khăng cố thủ, cho rằng mình đúng, mình không phải là quân cướp!!!

Không những ĐCSVN lo ngại về “diễn biến hòa bình”, họ còn tưởng tượng ra một bối cảnh “tự diễn biến” trong nội bộ của họ. Vậy thì “tự diễn biến” là cái gì? Giáo sư triết học Nguyễn Đức Bình, một trong những nhà lý luận chính trị nổi cộm của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị khóa VII, VIII, nguyên Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh định nghĩa về “tự diễn biến” như sau:

“Tự diễn biến là nói nhận thức tư tưởng từ mặt đúng, mặt tốt, mặt vững vàng, trung kiên chuyển hóa thành mặt xấu; dù chưa phải nhưng nếu không phòng, có thể dần trở thành chống đối và bị kẻ thù lợi dụng”.

Đành rằng ông Nguyễn Đức Bình định nghĩa vấn đề tự diễn biến này là ám chỉ diễn biến trong phạm vi đảng của ông. Nhưng một người đã có nhiều năm “mài đũng quần” trên ghế nhà trường, và sau đó lại “mài” tiếp trên ghế quyền lực, chẳng lẽ ông vẫn không hiểu rằng diễn biến sẽ theo hai hướng, tốt và xấu. Ấy là chưa kể đến cách nhìn nhận của mỗi người mỗi khác về diễn biến của một sự việc, một vấn đề, đôi khi người này cho là tốt còn người khác lại cho là xấu. Quan điểm của ông Bình “tự diễn biến” nghĩa là “tự xấu”, vậy nếu nó “tự tốt” (điều này hoàn toàn có thể xảy ra) thì ông ta sẽ giải thích như thế nào?

“Vật chất không ngừng biến đổi từ dạng này sang dạng khác, từ hình thức này sang hình thức khác”, mà ý thức và sau đó là hành vi của con người hoàn toàn chịu sự chi phối mang tính quyết định của những vận động biến đổi vật chất. Vậy thì ông Nguyễn Đức Bình không bao giờ có thể giữ được sự bất biến của ý nghĩ, của nhận thức, vì vấn đề tự diễn biến thực ra là một quy luật muôn đời trong quá trình phát triển…

Không chỉ có ông Nguyễn Đức Bình, mà còn một vài những “cây” lý luận của chế độ CSVN như trung tướng – PGS.TS Lê Minh Vụ – Giám đốc Học viện Chính trị quân sự, thiếu tướng – TS Nguyễn Tiến Quốc, TS Nguyễn Văn Thế, và một vài vị phó giáo sư tiến sĩ khác như Nguyễn Vĩnh Thắng, Nguyễn Quang Phát, trong cuốn: “Phòng Chống Những Diễn Biến Hòa Bình Ở Việt Nam- Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn” (xuất bản tháng 08/2009), đã nêu ra “địa chỉ” mà chế độ CSVN cần chống “tự diễn biến” đó là 4 lĩnh vực chủ yếu: Chính trị- Xã hội, kinh tế – Đối ngoại, tư tưởng – Văn hóa, quốc phòng- An ninh.

Một người chỉ cần có trình độ nhận thức trung bình cũng có thể hiểu rằng: Muốn ổn định 4 lĩnh vực nêu trên thì chỉ cần trong sạch hóa, minh bạch hóa, dân chủ hóa, toàn dân hóa những lĩnh vực đó là xong.

Nhưng làm sao chế độ CS tại Việt Nam thực hiện được điều trên, khi về chính trị thì Đảng độc quyền, xã hội thì đạo đức xuống cấp do “thượng”- Là cán bộ ĐCS, bất chính? Về kinh tế thì manh mún lạc hậu, thiếu định hình chuẩn mực vĩ mô, nhà nước thả nổi cho hàng hóa độc hại rẻ tiền buôn lậu từ Trung Quốc tràn ngập thị trường. Mà những tay trùm buôn lậu chẳng phải ai xa lạ, hầu hết đều là vợ (hoặc chồng) con, hoặc tay chân thân cận của cán bộ các cấp thâu tóm!

Về đối ngoại thì chế độ CS của Việt Nam hạ mình quỳ gối trước ĐCS Trung Quốc, nhưng lại coi thường tiếng nói của nhiều nước dân chủ trên thế giới. Về tư tưởng, chế độ CS nhồi sọ cán bộ bằng mớ lý luận quanh co, sáo rỗng của chủ nghĩa CS biến tướng. Chắc hẳn những người như ông Nguyễn Đức Bình cố tình không hiểu rằng, những “triết lý” mà ông thường nói theo sách như một con Vẹt, đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay nữa, nó đã trở thành “chết lý” từ lâu.

Về quốc phòng – An ninh, chế độ CSVN không tăng cường bảo vệ an ninh biên giới, bảo vệ chủ quyền của quốc gia, để mặc cho ngư dân Việt Nam hứng chịu sự cướp bóc, bắn giết của hải quân Trung Quốc. Thực tế hiển hiện rõ ràng là an ninh, quân đội chỉ chăm chú bảo vệ chế độ do ĐCS cầm quyền mà bỏ quên nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Vậy thì ĐCSVN lấy gì để chống “tự diễn biến”, và chống như thế nào?

Chủ Nghĩa Cộng Sản là “ánh sáng soi đường”, là “mặt trời chân lý” vv… Đó là định nghĩa về CNCS được một vài người CS hình tượng hóa theo cách phóng đại, ngoa dụ! Nhưng nếu quả thật là CNCS thực sự tốt đẹp, nhân văn, vì vậy nó có thừa sức mạnh của chính nghĩa, thì nó đâu có sợ gì ai bôi xấu? Không những thế, nó còn có đủ sức cảm hóa các tư tưởng đối lập khác, và có thừa cơ hội làm cuộc “diễn biến hòa bình” ngược, đối với “các thế lực thù địch” và làm cho các thế lực đó “tự diễn biến”, “tự rối loạn”, thậm chí “tự tan rã” là điều chắc chắn!

“Chính nghĩa tự có tính thuyết phục, nhân nghĩa tự có tính cảm hóa”, đó là chân lý! Tại sao ĐCSVN luôn tự cho rằng họ có chính nghĩa, có nhân nghĩa, mà lại nơm nớp lo sợ bị cái xấu (?) làm cuộc cách mạng “diễn biến”, “cải biến” gì gì đó, để rồi bản thân cái gọi là “ánh sáng soi đường” và “mặt trời chân lý” của CS nói trên, trở nên tự xấu, “tự diễn biến” thì thật không thể nào hiểu nổi!

Có thể kết luận khẳng định rằng, vấn đề “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” là những quan niệm chính trị mơ hồ mà người ta cố tình nặn ra để coi đó là lý do phải cố bảo toàn cho được chế độ CS độc tài của họ. Trên thực tế, những diễn biến, nếu có, chỉ đơn thuần là những quy luật tất yếu. Mà xét cho cùng, có những thay đổi nào đó trong nhận thức của mỗi đảng viên ĐCSVN, thì tất cả chỉ là tự họ (chính xác hơn là tại họ, do họ). Đó đơn giản chỉ là câu chuyện hết “sinh khí” trong nội tình của ĐCSVN mà thôi…

Vấn đề hội nhập với quốc tế là một vấn đề mang tính sống còn cho sự phát triển mọi mặt của một đất nước, nhất là về kinh tế. Điều đó quan trọng đối với cả những nước giàu như Hoa Kỳ, Nhật, Italia, Anh, Pháp, chứ chưa nói gì đến những nước nghèo như Việt Nam, Lào, Campuchia. Người ta muốn gia nhập WTO để tìm kiếm lợi ích kinh tế thương mại, nhưng lại không chấp nhận hòa đồng về văn hóa, chính trị xã hội, về quan điểm quyền sống, quyền tự do của con người. Tại sao lại có chuyện phân biệt rằng: “Ở nước chúng tôi, nền văn hóa khác, mức sống chưa cao, cho nên vấn đề dân chủ cũng phải hiểu khác, thực hiện dân chủ phải có lộ trình”, những ai tuyên bố như vậy có thể công khai cái gọi là “lộ trình” ấy hay không? ĐCSVN đã dựa vào những lý lẽ rất vô lý ấy để “chống diễn biến”, “chống tự diễn biến”, thẳng tay đàn áp những tư tưởng cấp tiến trong nước lên tiếng đấu tranh giành dân chủ. Quan điểm phân biệt trên chẳng khác nào họ tự phân biệt chủng tộc của mình với các chủng tộc khác trên thế giới!

Một quốc gia chấp nhận hội nhập là một quốc gia phải biết tiếp thu những tinh hoa văn hóa, đường lối phát triển kinh tế, phát triển chính trị xã hội của những nước khác. Họ không thể chỉ hội nhập về phát triển kinh tế, tài chính, còn chính trị xã hội thì ngăn chặn sự ảnh hưởng tương tác, vì tất cả các mặt của cuộc sống là không thể tách rời trong quá trình phát triển. Và cũng bởi tất cả các vấn đề kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội đều có những quan hệ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên nhau. Trong thời đại tiên tiến ngày nay, do trình độ dân trí ngày càng phát triển, sẽ không bao giờ có chuyện một tư tưởng chính trị nào đó có thể du nhập vào một nước theo cách “diễn biến hòa bình”, và nó chẳng thể làm cho ai đó “tự diễn biến” nếu nó không thực sự có sức mạnh thuyết phục!

Thử lấy một ví dụ: Một người kia đang ở trong ngôi nhà rách nát của mình, một người khác nói rằng, anh ta nên dỡ bỏ cái gọi là nhà ấy đi, nếu anh ta làm theo, thì có hai trường hợp xảy ra: Một là, anh ta là kẻ mất trí, nếu ngôi nhà của anh ta đang ở vừa tốt, vừa đẹp! Hai là, nhờ lời khuyến cáo, anh ta đã nhận ra nơi ở của mình thực ra nó không phải là một ngôi nhà, nó chỉ là một cái gì đó tựa như hang, ổ. Vậy nếu anh ta quyết định dỡ bỏ nó, dựng nên ngôi nhà mới, là quyền của anh ta, do anh ta. Tại sao lại đổ tội cho người đã “xúi” anh ta dỡ bỏ nhà cũ làm Việt Cộng nhà mới.

Anh chủ nhà ấy nếu không làm theo lời người khác thì có ai chém giết anh đâu, mọi việc đang diễn ra trong hòa bình cơ mà!

Như vậy chẳng có một thế lực nào đang đe dọa chế độ CSVN “bằng con đường hòa bình” như họ nói. Vấn đề là ở chỗ ĐCSVN đã tự xấu, đang tự xấu thêm và họ không bao giờ có thể tự tốt. Bản thân nhiều việc làm xấu của họ đang trực tiếp đe dọa vị thế của chính họ, đơn giản là như vậy!

Thật kỳ lạ thay, một chế độ chính trị tự thân lại không thể hiểu được mình, loay hoay trong mớ lý luận thiếu thực tế, phản khoa học, chẳng thuyết phục nổi một ai. Họ đành phải áp đặt tội lỗi cho cả sự hòa bình, coi hòa bình (và những gì diễn ra trong nó) là thù địch (!). Bản thân những người đang mang danh CS, khoác áo CS, không có năng lực để tự hiểu chính mình, vậy thì làm sao họ có khả năng để hiểu người khác! Làm sao họ có thể “tự tốt”. Càng không bao giờ họ có khả năng đưa đất nước mà họ đang tạm thời nắm quyền, đi đến bến bờ tự do, dân chủ.

Những cái gọi là quan niệm (hay quan điểm) về “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, là những sản phẩm trí tuệ không có thực tế, nó thể hiện sự mất phương hướng trong lý luận, cũng như trong tư duy chính trị. Những “sản phẩm” ấy, mang nặng tính ngụy biện, cố tình che giấu sự thối nát kém cỏi của người trong cuộc, và nó là hệ quả tất yếu của một tư tưởng thật ra là không tưởng, đó là tư tưởng Cộng Sản!!!

Lê Nguyên Hồng
Email: ln0868@gmail.com ln0868@gmail.com

Đảng Cộng Sản Sợ Quân Đội Nhân Dân

Để sửa soạn cho Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2009, báo Quân Đội Nhân Dân cho phổ biến một loạt bài lấy chủ đề “Làm thất bại chiến lược Diễn biến hòa bình”. Trong loạt bài này, ngày 15/11/2009, Đại tá Tiến Sỹ Nguyễn Văn Quang, Phó trưởng Ban Nghiên cứu – Tổng kết Lý luận thuộc Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, cho rằng đòi hỏi cần xây dựng quân đội chuyên nghiệp, để quân đội có khả năng gìn giữ biên cương lãnh thổ, chỉ nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chiến lược này nhằm tách đảng Cộng sản ra khỏi quân đội. Ông Quang đã dùng đúc kết sau để kết luận bài viết: “Ở các nước đông Âu khi nhân dân nổi dậy quân đội đứng ngoài chính trị, chỉ tuân theo pháp luật, bảo vệ Tổ quốc nên đảng thua”.

Hội nghị nói trên diễn ra trong hai ngày 05 và 06 tháng 12 tại Hà Nội. Trong phần khai mạc ,Tổng Bí thư cộng sản Nông Đức Mạnh nhận định về vai trò quân đội như sau: “Trong tình hình mới, hơn bao giờ hết quân đội phải tỉnh táo, nhạy bén về chính trị, phân biệt rõ địch, ta, đối tượng, đối tác, nắm vững bản chất, đánh giá đúng các hiện tượng, chủ động ngăn ngừa và đập tan mọi âm mưu thủ đoạn xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch; xác định đúng mục tiêu yêu cầu xây dựng quân đội cả tầm gần và tầm xa. Quân đội cũng phải thường xuyên nắm chắc tình hình, cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, xử trí đúng đắn các tình huống phức tạp, bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ đường lối của Đảng, chủ động tiến công làm thất bại các âm mưu, hành động phá hoại của kẻ thù, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh của đất nước, nhất là trong dịp có các sự kiện quan trọng của đất nước.”

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh trong diễn văn bế mạc hội nghị đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tư tưởng trong quân đội: “Các cấp ủy chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, chú trọng về Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XI của Đảng; chủ động đấu tranh chống âm mưu, hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và quan điểm sai trái, giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.”

Trong cuộc họp báo công bố Sách trắng Quốc phòng tại Hà Nội, ngày 8/12/2009, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng tuyên bố “những thế lực thù địch vẫn sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, kích động lực lượng bên trong chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam”.

Thực ra đây không phải là chuyện mới lạ gì. Ngày 27/8/2007 tại Tổng Cục Chính Trị Quân Đội, Chủ tịch nhà nước cộng sản Nguyễn minh Triết từng tuyên bố: “… khẳng định trước sau như một là chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải xây dựng đảng của chúng ta. Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát, cho nên phải củng cố công tác chính trị tư tưởng, củng cố vai trò của đảng…” Tiếng nói của ông Triết là tiếng nói chính thức của đảng Cộng sản.

Việc ông Triết công khai cảnh giác về đòi hỏi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp trước thành phần lãnh đạo quân đội cho thấy nội bộ quân đội đã có những thách thức về vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản, cũng như những đòi hỏi đảng Cộng sản phải bỏ Điều 4 Hiến pháp, và việc này đã làm cho giới cầm quyền lo sợ.

Trừơng hợp anh Nguyễn Tiến Trung gia nhập quân đội nhưng nhất quyết không thề “trung với đảng”. Anh Trung tin rằng quân đội phải trung thành với tổ quốc, với đất nước, với dân tộc thay vì với đảng cầm quyền. Anh Trung còn hãnh diện là đảng viên đảng Dân chủ Việt Nam và từng tuyên bố thi hành nghiã vụ để quân đội trở nên đa đảng. Giới cầm quyền quân đội đã bó tay chấp nhận cho đến ngày anh rời khỏi quân đội.

Trở lại với bài viết Đại tá Nguyễn Văn Quang, thay vì nhận ra nhu cầu bức thiết phải xây dựng quân đội chuyên nghiệp hay hiện đại hóa quân đội để quân đội có khả năng gìn giữ biên cương lãnh thổ, ông cha ta để lại, ông Quang ngược lại cho rằng đòi hỏi này là đòi hỏi phản động vì:

Thứ nhất đòi hỏi này “loại bỏ vai trò lãnh đạo quân đội của Đảng Cộng sản Việt Nam.” và “… không chỉ với quân đội mà còn đối với toàn xã hội.”

Ông Quang đưa ra một số lý do từ phiá đòi hỏi xây dựng quân đội chuyên nghiệp như: (1) trình độ lạc hậu của quân đội Việt Nam không thể bảo vệ được lãnh thổ, biển đảo; (2) đảng Cộng sản Việt Nam không chăm lo xây dựng quân đội chuyên nghiệp; (3) để có một quân đội hiện đại cần luật hóa quân đội để quân đội đứng ngoài chính trị các đảng phái; và (4) quân đội chỉ là của nhà nước và phục tùng nhà nước mà thôi…

Thứ hai đòi hỏi này “làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam nghi hoặc về chức năng nhiệm vụ, mất mục tiêu lý tưởng chiến đấu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.” Theo ông Quang nếu chỉ chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp mà không nâng cao bản chất chính trị giai cấp của quân đội thì quân đội sẽ không còn thực sự là quân đội của giai cấp công nhân, nhân dân lao động do đảng Cộng sản lãnh đạo.

Đây là một quan điểm đã quá lỗi thời vì đảng Cộng sản Việt Nam không còn hay chưa bao giờ đại diện cho giai cấp công nhân hay nhân dân lao động. Lại nữa, ước mơ của người cộng sản là biên giới các quốc gia cộng sản sẽ được xoá bỏ để tiến đến một thế giới đại đồng. Chính vì ước mơ này một phần không nhỏ lãnh thổ Việt Nam đã bị quốc gia đàn anh Trung Quốc chiếm đóng.

Càng ngày Trung Quốc lại càng lộ rõ dã tâm xâm chiếm các quốc gia trong vùng bằng quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá… Muốn giữ gìn bờ cõi ông cha để lại, về quân sự chỉ có một phương cách duy nhất là hiện đại hoá, chuyên môn hoá quân đội.

Thứ ba, đòi hỏi này “làm suy yếu tính nhân dân của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Theo ông Quang: “quan điểm“ chuyên nghiệp hóa quân đội, thành lập quân đội tự nguyện chuyên nghiệp, chuyển nghĩa vụ quân đội thành nghĩa vụ dân sự’’, khi có sự biến, chắc chắn chỉ còn một mình quân đội phải gánh vác. Và nếu chỉ quan tâm tới lực lượng tự nguyện chuyên nghiệp thì lấy đâu ra nguồn nhân lực hùng hậu bổ sung cho quân đội trước thiên tai, bão lụt chứ đừng nói gì đến động viên cho chiến tranh.”

Đây là một đề tài lớn giữa tình nguyện và cưỡng bách quân dịch. Trong hoà bình việc tình nguyện và chuyên môn hoá quân đội thường được đem ra áp dụng. Khi chiến tranh luật tổng động viên có thể được ban hành theo nhu cầu chiến cuộc.

Lịch sử đã chỉ thấy nếu quân đội thực sự phục vụ tổ quốc dân tộc khi chiến tranh toàn dân sẽ một lòng phục vụ quân đội chống ngoại xâm.

Vai trò chính cuả quân đội là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Quân đội cũng giúp dân trong việc xây dựng làng xã công trình công cộng, cứu trợ thiên tai bão lụt,… nhưng đây không phaỉ là vai trò chính. Miền Nam trước 1975, các công tác trên đã được các đoàn thể thanh niên, sinh viên, học sinh tình nguyện thực hiện. Một xã hội dân sự lành mạnh là nhu cầu bức thiết của xã hội Việt Nam ngày nay.

Chính ông Quang cũng cho rằng “cần kết hợp một cách hợp lý giữa chế độ tình nguyện và nghĩa vụ là điều mọi quốc gia đang làm.”

Thứ tư là “tạo ra “các cơ sở pháp lý để thâu tóm quân đội, dùng chính quân đội để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.” Theo ông Quang: “Khi mà Hiến pháp đã ban ra, việc thực thi “quân đội chuyên nghiệp” sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc dễ bề thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa quân đội”. Kẻ thù sẽ tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, rồi dùng ngay sức mạnh quân sự bấy lâu nay được Đảng tôi luyện, nhân dân ta nuôi dưỡng để chống lại Đảng, lật đổ Nhà nước, xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam…”

Rõ ràng đảng Cộng sản đang lo sợ Quân Đội Nhân Dân sẽ đứng về phiá người dân để giành lại các quyền tự do cho toàn dân tộc, từ tay một thiểu số cầm quyền cộng sản.

Đại Hội lần này, đảng cộng sản đang phải đối đầu với suy thoái kinh tế, lạm phát phi mã ảnh hưởng đến mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam . Các quân nhân thường gánh phải nhiều khó khăn về vật chất, có khi còn mắc khó khăn hơn các tầng lớp xã hội khác. Đa số các quân nhân thi hành nghĩa vụ thường lệ thuộc vào sự giúp đỡ của gia đình.

Bên cạnh khủng hoảng kinh tế là những khủng hoảng về văn hóa, giáo dục, luật pháp, tư tưởng… Và nạn tham nhũng đang ngày một xoáy mòn đảng và nhà nước cộng sản.

Đa số cán bộ trung và cao cấp trong quân Đội ngày nay đều trưởng thành trong cuộc chiến tại Cam Bốt và cuộc chiến chống bá quyền Trung Quốc xâm lược. Họ có cách nhìn và suy nghĩ khác với thiểu số cầm quyền cộng sản. Chính vì thế Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị (khóa IX) tiến đến việc thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội theo đúng khuôn mẫu đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra. Từ đó mới dẫn đến các đòi hỏi chuyên (chuyên nghiệp hóa quân đội) hơn hồng (chính trị hóa quân đội). Chuyên để giữ nước hồng để giữ đảng. Giữ nước hay giữ đảng chính là câu hỏi đang được giới quân nhân quan tâm tìm câu trả lời.

Trước đe doạ quân đội Trung Quốc xâm lược chủ quyền lãnh thổ, mất nước, mất chủ quyền dân tộc, quân đội Việt Nam không thể ngỏanh mặt làm ngơ để bị muôn đời nguyền rủa. Biết đâu chính lòng yêu nước của các quân nhân trong quân đội Việt Nam sẽ là lực chính, thúc đẩy tiến trình dân chủ tại Việt Nam .

Nguyễn Quang Duy

Đảng cần tự diễn biến

Nguyên đại sứ Nguyễn Trung đã có nhận định rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải tự diễn biến hòa bình trong nội bộ đảng”.

AFP photo
Công nhân chuẩn bị hoa cho Ngày Quốc Khánh 02/9/2012 tại Hà Nội. Ảnh minh họa.

Nhận thức này phá vỡ thành kiến cho rằng cụm từ “diễn biến hòa bình” luôn mang ý nghĩa phá hoại từ bên ngoài mang vào với mục tiêu lật đổ chế độ một cách êm thấm. Mặc Lâm phỏng vấn ông đại sứ Nguyễn Trung để biết thêm chi tiết.

Cần nhìn thẳng vào sự thật

Mặc Lâm: Thưa ông Nghị quyết TW 4 khẳng định “cần nhìn thẳng vào sự thật” trong mục tiêu chỉnh đốn đảng…thời gian đã qua khá lâu nhưng dư luận cho thấy vẫn chưa hoàn toàn đặt niềm tim vào cách mà đảng gọi là “nhìn thẳng vào sự thật”. Theo ông dư luận có cái lý của nó hay không?

Đại sứ Nguyễn Trung: Theo tôi đấy là một thái độ lúc nào cũng cần thiết chứ còn nhìn thẳng vào sự thật bao nhiêu thì tôi nghĩ rằng cũng chưa được nhiều. Gần đây nhất Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có nói gần sự thật hơn một chút tức là ông ấy cũng thừa nhận tình hình đã đến mức có những thách thức đến đảng, đến chế độ. Đó là thái độ nhìn thẳng vào sự thật và tôi nghĩ việc nhìn thẳng vào sự thật lúc nào cũng rất cần thiết.

Mặc Lâm: Mới đây ông có bài viết bàn về cụm từ “diễn biến hòa bình” nhưng không phải để chống nó như thường thấy mà lại cho rằng nó là biện pháp cần thiết để thay đổi trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam, xin ông giải thích thêm về lập luận này.

Đại sứ Nguyễn Trung: Tôi chỉ lưu ý một chuyện thôi, trước hết tôi phải nói thế này: đó là lâu nay trong nước vẫn có cách sử dụng khái niệm “diễn biến hòa bình” với một ý nghĩa rất tiêu cực. Thật ra tôi cho rằng “diễn biến hòa bình” nó là sự phát triển tất nhiên. Sự vật thường diễn biến theo hai cách, một là diễn biến hòa bình, hai là diễn biến không hòa bình. Bản thân nó chỉ là một sự vận động chứ không có màu sắc gì cả. Còn nội dung nó như thế nào thì đó là vấn đề quan trọng.

Thứ hai, lâu nay người ta vẫn dùng khái niệm “diễn biến hòa bình” để chỉ những cái gì mà họ cho là phía bên ngoài, phía thù địch họ đưa vào để thay đổi đường lối hay cách nghĩ của đảng của dân. Trên báo chí của đảng, của chính phủ người ta thường dùng cụm từ này để ám chỉ những gì mà họ thấy rằng không phù hợp với đường lối của đảng, của chính phủ thì họ gọi là “diễn biến hòa bình”. Tôi thấy nói như thế nó một chiều quá.

Tôi đã dùng lại khái niệm đó và kêu gọi đảng phải quan tâm những “diễn biến hòa bình” của chính mình. Cụ thể ở đây là quá trình tha hóa càng ngày càng trầm trọng mà đảng không nói tới như một sự cần thiết. Cho đến bây giờ ông Tổng bí thư mới nhận định rằng sự tha hóa này nó đã nguy hiểm đến mức đe dọa sự tồn vong của đảng của chế độ. Tôi thấy ông Tổng bí thư đã nêu ra được điều đó thì chính là một cách “diễn biến hòa bình” trong đảng.

Từ một đảng làm nhiệm vụ phục vụ tổ quốc bây giờ chuyển sang một đảng có nhiều sự tha hóa như vậy thì đảng rất cần tự diễn biến chính mình, ý tôi nói là như vậy.

Mặc Lâm: Cũng trong cụm từ đảng viên tha hóa như ông vừa nêu, gần đây xuất hiện một bài viết của tác giả Phóng Viên Quốc Doanh thẳng thắn nhận xét: “Bây giờ, khó tìm thấy tình đồng chí trong sáng và đẹp đẽ, từ cấp lãnh đạo cao nhất. Ngược lại, thấy rất nhiều sự lợi dụng nhau, hại nhau, ở cả lãnh đạo Đảng CSVN đương chức và đã nghỉ hưu, chẳng có được mấy tấm gương cho đảng viên trẻ noi theo” Ông có đồng tình với nhận xét này hay không?

Đại sứ Nguyễn Trung: Tôi không nói cụ thể như thế được vì như anh biết tôi đã nghỉ hưu lâu rồi không tiếp xúc với ai nữa, nhưng tôi tán thành cái nhận định chung nhất, tức là căn cứ những gì đang diễn biến trong xã hội, đời sống kinh tế, cuối cùng là sự xác nhận của ông Tổng bí thư như vậy thì tôi phải nói rằng sự tha hóa như vậy rất đáng lo ngại.

Chất lượng đảng viên sa sút

000_Del6108428-250.jpg
Ông Phạm Thanh Bình, Cựu Chủ Tịch tập đoàn Vinashin tại Tòa án Nhân dân Hải Phòng hôm 30/3/2012. RFA photo

Mặc Lâm: Theo ông người đảng viên hiện nay được quần chúng đánh giá ra sao, họ có còn được nhìn bằng đôi mắt của mươi mười lăm năm về trước hay không?

Đại sứ Nguyễn Trung: Tôi nghĩ rằng người đảng viên thì phải luôn luôn làm đúng nhiệm vụ của mình nếu không anh ta không còn tư chất một đảng viên như là điều lệ của đảng đã viết, hay là những gì mà anh ta đã tuyên thệ khi anh ta vào đảng, ví dụ như vậy. Khi người đảng viên mà không đủ phẩm chất thì tôi nghĩ nó sẽ rất vô cùng nguy hiểm.

Mặc Lâm: Ông từng nhận xét rằng sau mỗi lần đại hội Đảng là một lần chất lượng đảng viên lại sa sút. Kỳ đại hội sau kém hơn đại hội trước, nói tóm lại là tư cách đảng viên mỗi ngày một xuống. Ông đưa ra hình ảnh là các vụ khiếu kiện gia tăng, đảng viên mất phẩm cách trong các vụ kiện thưa nhiều hơn…những nhận xét này sau một thời gian vẫn tỏ ra chính xác trong hiện tình xã hội ngày nay, ông có bổ túc gì thêm cho ý kiến này?

Đại sứ Nguyễn Trung: Tôi nhận xét là sau mỗi đại hội thì đảng một yếu đi thì đấy là quan sát của tôi và tôi cũng thẳng thắn nói cái quan sát đó của mình trong nội bộ đảng cũng như là trên báo chí bởi vì tôi thấy cái gì thì luôn luôn tôi nói thẳng. Cái thứ hai tức là bây giờ lấy gì mà xem xét? thì cứ nhìn vào đời sống thật của đất nước. Trong kinh tế, trong chính trị, trong xã hội thì rõ ràng hiện nay những hiện tượng tham nhũng tha hóa của khóa Đại hội X rõ ràng nó nguy hiểm hơn khóa Đại hội IX. Bây giờ khóa XI mới bắt đầu thôi nhưng những vụ việc phải đem ra pháp luật xử lý rất cực kỳ nghiêm trọng. Vì vậy nên tôi rất lo cho tình trạng tha hóa, sa sút như vậy nó còn đang tiếp diễn chứ chưa phải là nó đã được chặn lại.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông Đại sứ Nguyễn Trung.

Theo dòng thời sự: