Miến Điện và Việt Nam : hai thị trường đầu tư mới của Nhật?

Posted on November 20, 2012

0


Trong những tháng đầu năm 2012, những thể hiện mang tính ồn ào và đầy bạo lực của chính quyền Trung Quốc về chủ quyền trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa với Philippines và Việt Nam, khiến dư luận quốc tế nhìn Trung Quốc với cặp mắt e ngại. Trong suốt mùa hè vừa qua, Bắc Kinh lại to tiếng đối với Nhật Bản về chủ quyền trên quần đảo Sen Cát (Sensaku/Điếu Ngư) ở Biển Đông càng khiến thế giới lo ngại. Người ta tự hỏi Trung Quốc muốn gì ?

Nhiều người cho rằng đó chỉ là những đòn hỏa mù để ban lãnh đạo Bắc Kinh che giấu tình hình kinh tế đang giảm tốc của Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến sự ổn định trong lục địa. Hàng ngàn xí nghiệp lớn nhỏ của nước ngoài, đặc biệt là Nhật, vốn là hạt nhân cơ bản tạo ra phát triển với tốc độ cao từ hai thập kỷ vừa qua (1992-2011) bằng đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc đang tìm đường tháo lui. Bất ổn và sự trở mặt của chính quyền Trung Quốc là những rủi ro quá lớn, không ai lường trước được những gỉ sẽ xảy ra.

Đối với Nhật, khuynh hướng chung của các xí nghiệp làm chuyển vốn đầu tư sang những quốc gia khác, đặc biệt là Miến Điện và Việt Nam, trong khi chờ đợi đầu tư dài hạn vào Ấn Độ với quy mô lớn.

Đối phó như thế nào trước rủi ro Trung Quốc ?

Làm ăn với Trung Quốc là chấp nhận những rủi ro về chính trị mà các xí nghiệp Nhật đã trải qua suốt cuối thế kỷ 20. Trên ngưỡng cửa thế kỷ 21, thái độ của các xí nghiệp Nhật đã thay đổi. Người Nhật không còn chấp nhận những hành vi bạo động chống phá những xí nghiệp của họ tại Trung Quốc mỗi khi chính quyền Nhật có một hành động nào đó không vừa lòng Bắc Kinh. Chẳng hạn như năm 2005 thủ tướng Koizumi tham bái đền thờ Yasui Kuni đã làm cho phong trào chống Nhật lên cao: tòa lãnh sự Nhật bị ném đá, tiệm ăn Nhật bị đập phá… Mùa thu 2010, tàu đánh cá Trung Quốc tông vào tàu của đội tự vệ Nhật làm dấy lên các cuộc biểu tình chống Nhật. Rồi gần đây, mùa hè 2012, Bắc Kinh khuấy động tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Sensaku (Điếu Ngư) dẫn đến những cuộc xuống đường chống Nhật khiến nhiều cửa hàng và xí nghiệp bị đập phá.

Người Nhật biểu tình chống Trung Quốc – Ảnh: Reuters

Dưới thời thủ tướng Nota, các cuộc biểu tình chống Nhật không chỉ ở trong các thành phố lớn mà còn lan rộng ra nhiều địa phương. Những chống đối trở nęn đa diện hơn, gần như tất cả những cứ điểm sản xuất và chế tạo của Nhật đều bị người biểu tình tấn công, thêm vào đó là phong trào tẩy chay hàng hóa Nhật trên khắp cả nước. Lần này giọt nước đã làm tràn ly, các xí nghiệp Nhật đang tìm cách rút lui khỏi địa bàn Trung Quốc. Giới đầu tư Nhật có cảm tưởng như đang bị phản bội, người Trung Quốc ăn cháo đá bát.

Nhắc lại, trong hai thập niên đầu thiên niên kỷ này, các xí nghiệp Nhật bị buộc phải tăng lương cho nhân công Trung Quốc từ 20 đến 30% khiến giá hàng hóa tăng cao không bán cho người tiêu thụ Trung Quốc được, đặc biệt là xe hơi. Trong khi, ngược lại, các xí nghiệp do người Trung Quốc làm chủ không những không bị ép tăng lương mà được khuyến khích bán hàng với giá rẻ hơn Nhật để giành lại thị trường trong nội địa. Vai trò của chính quyền Trung Quốc trong việc điều hành sinh hoạt kinh tế khiến quốc tế rất đáng ngờ vực, một mặt họ tuyên bố tôn trọng qui ước của Tổ chức Mậu dịch Thế giới, mặt khác họ dựng lên rào cảng bảo vệ thị trường nội địa khiến không ai còn tin vào sự thành thực của chính quyền Trung Quốc, trong tương lai sẽ không còn ai giúp Bắc Kinh giải quyết những hỗn loạn kinh tế trong nước, nếu có xảy ra.

Trong quá khứ quan hệ Nhật-Trung thường được gọi là quan hệ chính trị lạnh nhạt nhưng kinh tế nóng bỏng. Trong không khí hỗn loạn năm 2005, bộ trưởng thương nghiệp lúc đó là Bạc Hy Lai cho biết các xí nghiệp của Nhật đã nộp thuế đều đặn cho chính quyền Trung Quốc và 9,2 triệu người Trung Quốc làm việc trong xí nghiệp Nhật, và yêu cầu Bắc Kinh ngăn cản các cuộc biểu tình. Nhưng trong năm 2012 này không có một sự vận động nào như thế. Quan hệ kinh tế Nhật-Trung trở nęn lạnh nhạt.

Cũng nên biết, năm 2000 GDP của Trung Quốc chỉ bằng 1/4 Nhật, năm 2005 bằng 1/2 Nhật và đến năm 2011 cao hơn Nhật và đứng thứ hai trên thế giới. Điều này chứng tỏ Trung Quốc đã làm những cố gắng vượt bực với một tốc độ chóng mặt để bắt kịp chậm trễ và qua mặt nhiều quốc gia phát triển khác. Trọng lượng mậu dịch của hai nước cũng giảm dần với thời gian: năm 2000 tổng ngạch mậu dịch giữa hai nước chiếm 17,5%, hơn Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu, đến năm 2011 xuống còn 9,4% thua cả Mỹ lẫn châu Âu.

Cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008 cộng thęm trận động đất sóng thần năm 2011 đă khiến sinh hoạt kinh tế của Nhật bị trì trệ, tìm kiếm thị trường đầu tư mới là lẽ sống còn của các xí nghiệp Nhật. Năm 2007, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các địa phương Nhật tiến vào Trung Quốc đầu tư gia tăng một cách đáng kể, không chỉ trong lãnh vực chế tạo mà cả các ngành bán sỉ bán lẻ.

Sinh hoạt kinh tế thế giới nương tựa lẫn nhau là chuyện bình thường, trong lãnh vực này không thể hơn ai lợi hơn ai vì tất cả đều liên lụy. Nếu quan hệ Nhật-Trung bị xấu đi, sinh hoạt kinh tế của Trung Quốc cũng bị lãnh đủ, vì xí nghiệp Nhật ngưng đầu tư sẽ gây thất nghiệp ở Trung Quốc. Thêm vào đó, kỹ thuật và bí quyết quản lý Nhật đã góp phần nâng cao kỹ năng của công nhân Trung Quốc, nếu xí nghiệp Nhật rời bỏ Trung Quốc thì tay nghề của công nhân Trung Quốc sẽ bị giảm xuống. Nhưng hôm nay, dù biết sự quan trọng của mối quan hệ này, thái độ của chính quyền và người Trung Quốc đã làm nãn chí doanh nhân Nhật, làm ăn với Trung Quốc có quá nhiều rủi ro, phải mở rộng đầu tư sang những quốc gia khác.

Hướng về Việt Nam và Miến Điện

Hiện nay doanh nhân Nhật và Âu Mỹ xem trọng vùng Nam Á (Ấn Độ, Bangladesh) vì đó là địa bàn đầu tư lớn trong những năm sắp tới để làm đối trọng với Trung Quốc. Lợi điểm của khu vực Nam Á là có những chế độ thực sự dân chủ, một dân số trẻ và trong vòng 20 năm nữa có thể sẽ vượt qua dân số Trung Quốc, đây đúng là khu vực đầu tư hấp dẫn cuối cùng của thế kỷ 21. Tuy nhiên, ngoài ưu điểm là trình độ kỹ thuật công nghệ IT (tin học) và lắp ráp xe hơi loại nhỏ giá rẻ, phần lớn hạ tầng cơ sở của khu vực này từ bến cảng, phi trường, đường cao tốc, xe điện siêu tốc trong các đô thị chưa đáp ứng đúng nhu cầu sản xuất qui mô của những xí nghiệp lớn. Phải chờ từ 10 đến 15 năm nữa khu vực Nam Á mới hoàn thành được mạng lưới điện năng, đó là điều mà hai thủ tướng Nhật-Ấn sẽ ký kết trong chuyến viếng thăm Nhật vào cuối tháng 11 này.

Trong khi chờ đợi, doanh nhân Nhật dành cho Miến Điện, nước ASEAN nằm sát Ấn Độ, một cảm tình đặc biệt. Chính quyền quân phiệt Miến Điện đã thực sự cởi bỏ bộ áo độc tài để mở cửa về dân chủ. Mỹ và Liên Hiệp Châu Âu đã viện trợ cho Miến Điện hơn 1 tỷ USD. Riêng Nhật đã xóa khoảng 1 tỷ USD nợ và viện trợ cấp tốc 500 triệu USD cho Miến Điện để xây đường cao tốc nối liền cảng Rangoon với Mandalay. Trong năm 2012, các xí nghiệp của Nhật từ Thái Lan đã ồ ạt sang Miến Điện thiết đặt văn phòng làm việc ở các thành phố lớn, đông nhất là tại Rangoon. Trong khi chính quyền Miến Điện cũng đang sửa đổi lại luật đầu tư để thu hút vốn nước ngoài, chẳng hạn như cho phép sử dụng đất đến 70 năm, miễn thuế thu nhập pháp nhân 5 năm đầu.

Tuy nhiên sau trận động đất năm 2011, doanh nhân Nhật có khuynh hướng chuyển sang Việt Nam với giá văn phòng và nhân công rẻ hơn, đặc biệt là thức ăn hợp khẩu vị hơn đối với người Nhật. Thêm vào đó, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ xe gắn máy lớn với hơn 88 triệu dân. Cũng nên biết trong năm 2011, người Việt Nam đã mua hơn 3,3 triệu xe gắn máy, trong đó các hiệu xe của Nhật, đặc biệt là Honda, chiếm 80% thị trường. Giá bán một xe gắn máy hiệu Honda của Nhật khoảng 1200 USD, hợp với túi tiền và đồng lương của giới trung lưu Việt Nam, khoảng 200 USD/tháng. Việt Nam còn có một ưu điểm khác là có một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khiêm nhường, từ 5 đến 6%/năm, đủ để hấp dẫn các xí nghiệp vừa và nhỏ của Nhật đầu tư vào thị trường Việt Nam.

Rủi ro mà giới doanh nhân Nhật lo lắng nhất tại Việt Nam là nạn tham nhũng và chính sách bất nhất của chính quyền. Không ai có thể tiên đoán hay lên bất cứ kế hoạch nào trong trường kỳ vì không biết cái gì sẽ xảy ra sau lần thay đổi nhân sự hay chính sách, khối lượng tiền hối mại quyền thế chắc chắn sẽ cao hơn, trong khi người Nhật, đặc biệt là chính quyền Nhật, rất ghét tham nhũng và hối lộ. Năm 2011, doanh thu của các công ty sản xuất xe hơi lớn như Ford, Toyota đã giảm 40% bởi những thay đổi trong luật lệ về thuế khóa của chính quyền Việt Nam. Việt Nam còn một rủi ro khác là nạn làm hàng giả mà chính quyền chưa có biện pháp nào để kiểm soát. Nhiều công ty và hãng xưởng của châu Âu, như Shell, đã từ bỏ thị trường Việt Nam vì sự bất lực của chính quyền trong việc bài trừ nạn sản xuất hàng giả cạnh tranh với hàng thật.

Bù lại, các công ty vừa và nhỏ của Nhật rất chú ý đến thị trường tiêu thụ hàng nông nghiệp của nông gia Việt Nam. Họ tin rằng khi GDP trên đầu người Việt Nam lęn đến 3000 USD một năm, giới nông gia Việt Nam, 40% dân số, sẽ mua các loại xe máy cày nhỏ như Yanmar, Kubota thay thế trâu bò ; giới trung lưu đô thị sẽ tìm mua những loại hàng hóa tiêu dung thường ngày có phẩm chất cao của nha-tạ đặc biệt là các kiểu xe tiết kiệm năng lượng (hybrid) của Nhật.

Thêm vào đó, trước sự gia tăng dân số, các công ty Nhật sẵn sàng bỏ tiền ra mua các cổ phần chứng khoán của các ngân hàng Việt Nam, chẳng hạn như Sài Gòn thương tín (Sacombank) đang bán ra với giá rẻ. Doanh nhân Nhật đang đầu tư vào các khu vực có tiềm năng sản xuất cao, nhất là mua lại những bất động sản đang xuống giá ở Hà Nội – Đà Nẵng – Sài Gòn – Bình Duơng, để chuẩn bị ở lại lâu dài sau khi rút lui khỏi thị trường Trung Quốc.

Với những kinh nghiệm đầu tư tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, doanh nhân Nhật nghĩ rằng với một dân số trên 88 triệu người và lứa tuổi trung bình là 28 của người dân, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ lớn đồng cũng sẽ là một thị trường lao động lớn. Thêm vào đó, một một trình độ dân trí và kỹ thuật cao, Việt Nam có tiềm năng của một quốc gia lớn.

Vấn đề cần được giải quyết gấp là chính quyền cộng sản Việt Nam phải cải tổ gấp về chính trị để xã hội có tự do và dân chủ hơn, đó là mong ước chính của giới đầu tư quốc tế trong những ngày sắp tới. Thời kỳ vàng son của những chế độ độc tài bình thường đã qua đi, bình minh của những chế độ dân chủ đang ló dạng. Rủi ro của Trung Quốc có thể sẽ là may mắn cho Việt Nam, nếu biết bắt giữ.

Kiêm Huơng (Kanagawa)