Làn sóng vượt biên lần thứ hai

Posted on January 30, 2013

0


Tôi có hai người bạn thành đạt. H là tổng giám đốc trong một quỹ đầu tư lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng đi du học và lập gia đình ở nước ngoài. Cách đây 8 năm, anh bỏ việc ở nước ngoài để về nước với niềm phấn khích cao độ. Giờ đây, anh đang tính nộp hồ sơ xin di trú cho gia đình sang Bắc Mỹ. Anh chưa tính sẽ sang Bắc Mỹ sống ngay, nhưng với anh, đó là một cách bảo hiểm.
86471D28-DCD0-4D37-84A1-34134859112C_w640_r1_s_cx0_cy5_cw0
T là chủ một doanh nghiệp cổ phần cũng ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng bán một công ty trước đây do anh gây dựng và thu về một khoản tiền lớn. Giờ đây anh vẫn còn hai công ty nữa ở Việt Nam. Tuy nhiên hiếm khi anh ở Việt Nam. Anh dành phần lớn thời gian ở Mỹ với gia đình, nơi anh mới mua một căn biệt thự giá hơn 3 triệu USD hồi đầu năm 2012.

Trở thành thường trú nhân, hay còn gọi là người có “thẻ xanh”, hoặc trở thành người song tịch, tức là vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch một nước khác, đang trở thành một xu thế thời thượng. Có nhiều hãng tư vấn di trú đang hoạt động tích cực ở Việt Nam như IMG, Kornova, USIS, Harvey Law Group (HLG), Immigration (IMM), US Investment (USI), ImmiCa… để phục vụ những khách hàng tiềm năng như H và T. Một số đang trong tình trạng chạy hết công suất vì khách hàng quá đông.

Hợp pháp và hợp lý

Việc làm thủ tục xin định cư ở nước ngoài là việc hoàn toàn hợp pháp ở Việt Nam. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó nó còn được khuyến khích. Kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, Luật Quốc tịch mới của Việt Nam có hiệu lực và luật này quy định công dân Việt Nam có quyền có hai quốc tịch. Theo Bộ Tư pháp, kể từ ngày đó, người Việt Nam ra định cư, nhập quốc tịch ở nước ngoài đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký. Điều đó có nghĩa là người Việt Nam có thể xin quốc tịch nước khác như Mỹ hay Canada mà không cần phải sợ mất quốc tịch Việt Nam.

Với nhiều người, việc có quốc tịch thứ hai cũng không quá quan trọng. Điều họ cần là quyền được định cư lâu dài ở nước mà họ lựa chọn ngoài Việt Nam. Và như vậy, chỉ cần là thường trú nhân (có thẻ xanh) là đủ. Điều đó có nghĩa là việc có hay không có quyền có hai quốc tịch theo luật Việt Nam không phải là yếu tố thúc đẩy họ xin định cư nước ngoài.

Xét về mặt cá nhân, việc thu xếp để có thêm một lựa chọn về nơi ở là chuyện bình thường và hợp lý. Cả H và T đều muốn con cái khi lớn lên được sống trong một môi trường an toàn và được hưởng thụ một nền giáo dục tốt. Ngay cả nếu không định cư dài hạn ở một nước khác, thì có được tự do trong việc đi lại và thay đổi môi trường sống theo sở thích cũng là một quyền lợi thú vị, mặc dù tốn kém. Đó là chưa kể việc một số người trở nên giàu có như T muốn đa dạng hoá tài sản của mình, vì thế, giữ một số tài sản bất động sản ở nước ngoài cũng là một lựa chọn thông minh.

Xã hội Việt Nam đang giàu lên. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, Việt Nam ngày càng có nhiều người giàu. Đi kèm với nó là ngày càng nhiều những người có nhu cầu làm thường trú nhân ở các nước phát triển như H và T. Điều này xem ra có vẻ rất bình thường.

Không có số liệu chính thức về số hồ sơ xin định cư mà các hãng tư vấn định cư hoạt động ở Việt Nam đang giải quyết. Vì nhiều lý do tế nhị, cũng ít có người công khai tự nhận mình đang xin quyền định cư ở nước khác. Thế nhưng có nhiều bằng chứng gián tiếp cho thấy phong trào này hiện nay đang phát triển mạnh. Ngày càng có nhiều hãng tư vấn di trú quốc tế tham gia vào thị trường Việt Nam, ngày càng có nhiều đại lý độc lập mọc lên phục vụ khách hàng trên thị trường này. Một số hãng lớn trong năm 2012 thậm chí đã bị quá tải và phải outsource ra bên ngoài để có đủ nhân lực xử lý hồ sơ.

Thậm chí đã xuất hiện một số doanh nghiệp Việt Nam ngấp nghé đầu tư vào Bắc Mỹ hoặc Úc trong các ngành liên quan đến nông – lâm nghiệp với mục đích tạo càng nhiều công ăn việc làm ở các nước này càng tốt. Lý do là số lượng công ăn việc làm tạo ra càng nhiều thì các chủ dự án này càng xin được nhiều xuất thẻ xanh. Các xuất thẻ xanh này sau đó có thể bán lại cho các “nhà đầu tư”- thực chất là những người bỏ tiền ra mua thẻ xanh vào các nước phát triển.

Nhiều câu chuyện có vẻ hợp lý về mặt cá nhân nhưng khi gộp với nhau lại là tín hiệu cho thấy nhiều sự bất bình thường về mặt xã hội. Và câu truyện xin di trú ồ ạt này cũng vậy.

Bất bình thường về xã hội

Thông thường những đợt di cư ồ ạt ra nước ngoài thường là chỉ dấu cho thấy những vấn đề về mặt xã hội. Lý do thông thường nhất là sự khó khăn về kinh tế, hiểm hoạ chiến tranh, bất ổn chính trị, phân biệt chủng tộc…Làn sóng vượt biên ở Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 trước đây là một thí dụ. Nền kinh tế Việt Nam trước đổi mới đã rơi vào tình trạng kiệt quệ và điều này đã làm cho nhiều người Việt tìm cách vượt biên với hi vọng tìm được miền đất hứa.

Thế nhưng trào lưu di cư lần này của người Việt khác xa với trào lưu vượt biên trước đây, mặc dù có nhiều người gọi vui là phong trào vượt biên lần thứ hai. Khác biệt cơ bản nhất là phong trào hiện nay là phong trào di cư của những người giàu, những người thực sự có tiền để trở thành các nhà đầu tư và lấy thẻ xanh qua hình thức đầu tư. Nếu trước đây các thuyền nhân vượt biên nghèo đói chen chúc trên những thuyền cá nhỏ bé, thì những người di cư lần này đi máy bay trên ghế hạng C (hạng sang) và trong tài khoản đầy tiền.

Lý do thông thường khiến những người giàu muốn định cư ở nước phát triển là tìm đến một môi trường xã hội tốt hơn cho gia đình khi họ trở thành những người có khả năng chi trả cho một cuộc sống tốt hơn. Thế nhưng đây không phải là lý do tạo ra các đợt di cư đột biến.

Lý do thường được nghe đến nhiều nhất trong số các chủ doanh nghiệp muốn di cư ra nước ngoài ở Việt Nam là sự bế tắc về cơ hội kinh doanh hiện nay cũng như sự bi quan về triển vọng trong tương lai. Các doanh nhân luôn muốn tìm kiếm môi trường kinh doanh nơi họ có thể kiếm tiền nhiều nhất. Khi thấy Việt Nam không phải là nơi họ có thể kiếm nhiều nhất nữa, họ đương nhiên muốn kiếm tìm một chân trời mới.

Cũng từ sự bi quan về hiện trạng và tương lai của nền kinh tế khiến nhiều chủ doanh nghiệp lo lắng về các bất ổn xã hội có thể xảy ra trong tương lai. Điều này dẫn họ tới chuyện lo xa cho gia đình. Từ những mối lo sợ có thật như môi trường xã hội ngày càng kém an toàn, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh, tới những mối lo xa xôi như bất ổn và rối loạn xã hội hoặc chiến tranh. Trong khi còn có điều kiện về tài chính, việc thu xếp để gia đình có quyền thường chú ở nước khác xem ra là một dạng mua bảo hiểm khôn ngoan.

Ẩn sau câu chuyện đó, còn có những lý do tế nhị hơn. Việt Nam trong một giai đoạn dài phát triển rất mạnh. Do hệ thống luật pháp và chính sách không hoàn thiện và phải thay đổi thường xuyên, các lỗ hổng pháp lý rất nhiều và dẫn đến một thực tế là có nhiều người làm giàu dựa vào sự lỏng lẻo của quản lý hoặc các bất cập trong hệ thống pháp luật. Kết quả là các rủi ro pháp lý luôn luôn tồn tại, mặc dù không dưới các hình thái cụ thể. Ý thức về rủi ro pháp lý đối với các chủ doanh nghiệp Việt Nam thường không được rõ ràng lúc “thái bình” nhưng lại được làm sâu sắc hơn mỗi khi có các vụ bắt giữ hoặc điều tra quy mô lớn liên quan đến các chủ doanh nghiệp. Năm 2012 vừa qua là một năm như vậy.

Ra đi không tay trắng

Cuộc di cư của những người giàu thường là tai hại cho nền kinh tế nếu nó diễn ra trên diện rộng. Đầu tiên là sự thất thoát về chất xám. Không phải ai giàu có cũng giỏi, nhưng nhiều trong số những người này là những người có kinh nghiệm, có khả năng kinh doanh, hiểu biết, và thông minh. Sự ra đi của những cá nhân này là một thiệt thòi lớn cho nền kinh tế xét về mặt chất xám trong kinh doanh.

Thứ hai là sự thất thoát về của cải. Những người ra đi không phải với hai bàn tay trắng như phần lớn những người vượt biên bằng tàu cá hồi 30 năm trước. Những người ra đi lần này mang theo những khối tài sản lớn, thường là hàng triệu USD, ra nước ngoài. Rất nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, chủ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đều đã có bất động sản và số dư tài khoản tiền mặt lớn ở nước ngoài.

Thứ ba, đó là các phong trào này tạo ra hiệu ứng tâm lý, làm tăng sự dao động, làm sâu sắc thêm tâm lý lo ngại, cũng như làm giảm nhiệt huyết của những người còn ở lại. Nó cũng đồng thời làm nản lòng những người muốn tới Việt Nam đầu tư và làm ăn. Đây cũng là một bất lợi nghiêm trọng mà các phong trào di cư của người giàu gây ra cho thị trường.

Dù có những tác động bất lợi như vậy, việc lựa chọn di cư là một quyền hợp pháp của người dân. Vì thế không thể ngăn chặn xu hướng này bằng các mệnh lệnh hành chính. Cũng không thể ngăn chặn nó bằng những lời kêu gọi suông.

Giữ chân người tài bằng cách tạo niềm tin

Để chống lại xu hướng “vượt biên lần thứ hai” này cần phải giải quyết tận gốc nguyên nhân khiến nhiều người có tiền đang muốn dứt áo ra đi. Đó là niềm tin vào sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam và niềm tin vào sự an toàn của bản thân họ và gia đình ở Việt Nam. Việc này không dễ dàng. Để khôi phục lại lòng tin vào tương lai phát triển của đất nước, điều quan trọng là nhà nước phải chứng minh được cho thị trường và công chúng thấy khả năng dẫn dắt, lộ trình và giải pháp cụ thể, và uy tín chính trị của lãnh đạo.

Liên quan đến lộ trình và giải pháp cụ thể, đưa Việt Nam ra khỏi vũng lầy hiện nay không phải là một nhiệm vụ bất khả thi. Ngược lại, tất cả các vấn đề này đều có giải pháp. Khủng hoảng kinh tế không phải là một câu chuyện xa lạ mà nó đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong mọi hình thái kinh tế mà loài người đã trải qua. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Thực tế là các lời giải này đã được bàn đến nhiều, trong giới chuyên gia, trong các cơ quan tư vấn, từ các tổ chức hỗ trợ quốc tế, tới cả các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Việt Nam.

Vì thế, vấn đề còn lại nằm ở việc chứng tỏ năng lực cũng như uy tín chính trị của người lãnh đạo.

Uy tín này phải được khôi phục và nó chỉ được khôi phục khi người dân nhìn thấy các động thái quyết đoán của Đảng và nhà nước liên quan đến tư cách, trình độ, đạo đức, phẩm chất, tính chuyên nghiệp, tinh thần phụng sự đất nước, và cái nhìn viễn kiến của bộ máy lãnh đạo.

Phải từ việc khôi phục uy tín này, lãnh đạo quốc gia mới có thể vực dậy lòng tin của người dân về tính khả thi của sự đổi thay tích cực. Đi kèm với lòng tin này, các quyết sách thực tế của nhà nước nhằm thẳng vào các vấn đề giai góc nhất đang tồn tại mới có thể giúp Việt Nam vượt qua khó khăn hiện tại.

Chỉ khi làm được như vậy, lòng tin của thị trường cũng như của giới doanh nhân vào tương lai ở Việt Nam mới được khôi phục. Và chỉ có thế, câu chuyện “vượt biên lần thứ 2” của những người có tiền và những người có tài mới giảm bớt và dần dần đảo ngược giống như thời kỳ các doanh nhân Việt kiều lũ lượt về nước làm ăn hồi 10 năm trước.

Trần Vinh Dự

Doanh nhân Trung Quốc tìm đường di cư ra nước ngoài

Mong muốn có môi trường sống tốt hơn, cơ hội kinh doanh nhiều hơn, được hưởng các dịch vụ và phúc lợi công cộng hoàn hảo… giới doanh nhân Trung Quốc đang chuyển hướng nhập cư theo diện đầu tư ra nước ngoài.

> Nhà giàu Trung Quốc cất giấu 1/3 GDP đất nước

Báo cáo mới đây của Công ty tư vấn Bain cho thấy, 60% các đại gia sở hữu khối tài sản trên 10 triệu Nhân dân tệ tại Trung Quốc đang tính đến chuyện sẽ định cư ở nước ngoài. Khảo sát trên cũng cho biết 27% doanh nhân Trung Quốc có tài sản trên 100 triệu Nhân dân tệ đã di cư và 47% đang có ý định rời bỏ quê hương. Bến đỗ mới của những người này tập trung vào các quốc gia phương Tây như: Mỹ, Canada, Australia hoặc một số nước châu Âu.

Kết quả trên hoàn toàn tương thích với một số báo cáo cho biết Ngân khố Mỹ ghi nhận sự tăng đột biến trong lưu chuyển tiền mặt từ Trung Quốc kể từ đầu mùa hè năm ngoái.

Theo Global Financial Integrity, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về các giao dịch ngoại hối ra nước ngoài. Theo ước tính, dòng ngoại hối ra nước ngoài của Trung Quốc lên tới 2.180 tỷ USD từ năm 2000 đến năm 2008.

Dòng tiền này cũng tăng đáng kể trong quý 4 năm 2008 khi chính phủ Trung Quốc triển khai gói kích thích kinh tế, mở đầu cho giai đoạn mới của kế hoạch tái quốc hữu hóa một phần nền kinh tế. Khi đó, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã rót ngân sách vào khu vực quốc doanh và các tổ chức tín dụng nhà nước cũng đầu tư tiền vào các công trình do Chính phủ tài trợ.

Kết quả là trong năm 2009, 95% tăng trưởng Trung Quốc là từ đầu tư, và phần lớn là từ Chính phủ. Mặc dù ưu tiên các doanh nghiệp quốc doanh trong một số ngành kinh tế, các nhà đầu tư tư nhân cũng được không ít lợi ích từ gói kích thích kinh tế. Họ “ăn theo” bong bóng tài sản và trở nên ngày càng giàu hơn. Theo nghiên cứu của China Merchants-Bain, trong năm 2011, số người giàu của Trung Quốc sẽ lên tới 585.000 người, gần gấp đôi so với năm 2008.

Việc giới thượng lưu Trung Quốc di cư ngày càng nhiều đã gây tranh cãi mạnh mẽ trong dư luận. “Chúng ta đã làm việc vất vả trong suốt 30 năm qua để phát triển nền kinh tế, nhưng giờ thì những người giàu đang đem của cải rời bỏ đất nước,” nhà phân tích kinh tế Zhong Dajun trả lời phóng vấn của Global Times, tờ báo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

“Sự mất mát này thậm chí còn lớn hơn tất cả các khoản đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc. Nó cũng giống như đến mùa thu hoạch, tất cả nông sản của chúng ta đều đã rơi vào giỏ của người khác”, ông này nói.

Tuy nhiên, mọi thứ đều có nguyên do của nó. Từ năm 2008, Trung Quốc đã đối xử không công bằng và lợi dụng các nhà đầu tư tư nhân. Do đó, theo lẽ tự nhiên giờ đây họ phải tự bảo vệ bản thân.

Giới thượng lưu Trung Quốc vẫn tiếp tục mua bất động sản của Mỹ, và tiến tới đưa cả gia đình ra nước ngoài. Trong vòng năm năm qua, tỷ lệ giới đầu tư nước này nhập cư vào Mỹ đã tăng 73%. Trung Quốc đóng góp phần lớn trong làn sóng đầu tư từ Châu Á sang Vancouver (Canada). Tại Vancouver, trong tháng 2, dân môi giới đã làm không hết việc khi người Trung Quốc mua nhà ngày càng đông, khiến doanh số bán bất động sản tăng 70% so với tháng trước.

Có một nghịch lý là trong khi người nước ngoài đang rót tiền đầu tư vào Trung Quốc thì những doanh nhân nước này lại đem tiền của mình đầu tư ra nước ngoài.

Trên thực tế, làn sóng di cư của người giàu Trung Quốc không chỉ đơn thuần xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan mà còn do những yếu tố khách quan nảy sinh từ điều kiện kinh tế, xã hội hiện tại của nước này.

“Cơn sốt” đất, nhà ở trên thị trường bất động sản tại các thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh thời gian gần đây luôn khiến người dân Trung Quốc trở nên “ngộp thở”. Vì vậy, những bất cập trong đời sống thường nhật thôi thúc tầng lớp giàu có tìm kiếm cơ hội kinh doanh, sinh sống tại một môi trường thông thoáng hơn, bớt ngột ngạt hơn so với đại lục.

Ngoài ra, giới đại gia Trung Quốc cũng luôn cảnh giác với sự an toàn của số tài sản kếch xù của mình. Chính phủ đại lục từ lâu ban hành điều luật bảo đảm tài sản cá nhân nhưng trên thực tế, giới siêu giàu vẫn chưa thực sự yên tâm.

Ngô Giai Xuyên, 42 tuổi, một thương gia có tiếng trong giới bất động sản thổ lộ: “Tôi không có cảm giác an toàn khi kinh doanh ở Trung Quốc. Mỗi phi vụ làm ăn, tôi thường đau đầu giải quyết những thủ tục hành chính rườm rà. Chỉ cần một chút sơ sẩy, cả cơ nghiệp mấy chục năm gây dựng sẽ tan thành mây khói”.

Không ít người trong cuộc điều tra mới đây tỏ rõ thái độ bức xúc trước tác phong quản lý, làm việc của một số cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp. Ông Xuyên lý giải: “Nghe nói, ở nước ngoài môi trường kinh doanh rất thông thoáng, không bị ràng buộc bởi những thủ tục hành chính rườm rà. Môi trường như vậy mới thực sự thu hút tôi”.

Ngoài những nguyên nhân trên, nguy cơ an toàn vệ sinh thực phẩm cũng đang trở thành nỗi khiếp sợ của toàn bộ người dân nói chung và các đại gia Trung Quốc nói riêng. Hàng loạt những vụ việc bê bối: sữa chứa melamine, dầu bẩn, thịt siêu nạc, bánh bao nhiễm độc, hóa thịt lợn thành thịt bò, giá đỗ bẩn, miến giả… thời gian qua đã làm chao đảo thị trường tiêu dùng Trung Quốc. Do vậy, người giàu Trung Quốc cho rằng họ có quyền lựa chọn một môi trường sống an toàn hơn, nhằm đảm bảo tương lai của chính họ và con cái.

Tuyến Nguyễn