Kiều Vận

Chiến thuật Kiều Vận

>> Con sâu làm rầu nồi canh: nghị viên Hoàng Duy Hùng gặp thứ truởng ngoại giao CS Nguyễn Thanh Sơn
>> Việt Kiều yêu nước
Nhớ quê hương và thương những thân nhân còn bị kẹt ở lại quê nhà, những người tỵ nạn Cộng Sản đã chắt chiu đồng tiền để gởi quà về cho thân nhân. Bản nhạc “Chút quà cho quê hương” của Việt Dũng đã một thời làm rung động biết bao nhiêu trái tim Việt Nam xa xứ.
>> Xin lỗi chỉ là trò mị dân

“Apprenez que tout flatteur
“Vit aux depens de celui qui l’écoute”

(Jean de La Fontaine trong bài ngụ ngôn “Le Corbeau et le Renard”)
vochongNCKy
Văn hào người Nga Alexandre Solzenitsyne, người có quá nhiều kinh nghiệm với Cộng Sản (CS), đã viết: “Đi xe đạp từ mặt đất lên cung trăng còn dễ hơn là làm cho CS từ bỏ bạo lực và thay đổi tư duy”. Raymond Aron, một học giả nổi tiếng người Pháp, đã nhận định: “Tại Nga Sô, sự lừa bịp được định chế hóa. Nhà cầm quyền phải luôn luôn bóp méo sự thật để quần chúng không nhìn thấy CS là một con quái vật khát máu mang tên xã hội chủ nghĩa.”

Tục ngữ có câu “Rau nào sâu nấy”, “Thầy nào, tớ nấy”. Hồ chí Minh đã nhận Lénine là “ Bậc thầy vĩ đại” và đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) là con đẻ của đảng CS Nga Sô, thì bạo lực và lừa bịp nhất định phải là “bản chất” của đảng ấy. Điểm qua cuộc đời trên 3/4 thế kỷ của đảng CSVN, người ta thấy “bản chất” của đảng này thật sự bất biến và cấu tạo bởi nhiều thành tố do di truyền từ đảng CS Nga Sô: bạo lực, hận thù, gian dối, độc tôn….. .Người ta có thể nói bạo lực, hận thù, lừa bịp, độc tôn là thánh kinh, là da thịt, là xương tủy, là huyết mạch, là tim óc, là văn hóa của CSVN.

“Bản chất” của CSVN là như thế ấy . Nhưng khi cảm thấy lâm nguy hoặc khi tự nhận ở thế yếu, hoặc khi muốn ru ngủ đồng bào trước một vấn đề gì, CSVN liền thi triển những “hư chiêu”, trình diễn những “hiện tượng”, đưa ra những chiêu bài để lừa dối dân chúng. Một “hiện tượng” khá ồn ào được CSVN trình diễn trong tháng 3 vừa qua và các tháng kế tiếp : Nghị quyết số 36-NQ/TU “ Về Công Tác Đối Với Người Việt Ở Nước Ngoài” do Bộ Chính Trị đảng CSVN ban hành ngày 26/3/2004.

Trong bài viết này, trước hết xin bàn về bản chất của CSVN và các hiện tượng mà đảng ấy đã thi triển trước khi nghị quyết nói trên được ban hành; sau đó sẽ thử phân tích vở kịch “Con Quạ Với Con Chồn” được che dấu dưới cái gọi là Nghị Quyết 36. (NQ 36)

I. BẢN CHẤT CỦA CSVN.

“Bản chất” có tính cách bất biến, không sao thay đổi hoặc sửa đổi được.

“Bản chất” của CSVN, như trên đã viết, được cấu tạo bởi nhiều thành tố: lừa bịp, bạo lực, hận thù, độc tôn…Chính 3 thành tố sau đã nung đúc tính hiếu sát của CSVN: dùng bạo lực để thỏa mãn hận thù, dùng bạo lực để tận diệt đối lập hầu nắm quyền thống trị đất nước và khống chế dân tộc. Ở đây, người viết dùng nhóm chữ “thống trị” và “khống chế” vì lẽ “trách nhiệm quản trị đất nước” và “bổn phận đối với dân tộc” là những ý niệm còn quá xa lạ đối với CSVN.

Sau đây, xin ghi lại một số sự kiện để chứng minh những điều vừa nêu.

*Tàn sát Người Quốc Gia Yêu Nước ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Đảng viên Đại Việt, Việt Quốc,Việt Cách, Dân Xã Đảng (Phật Giáo Hòa Hảo), Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế (Cao Đài Giáo), Đệ Tứ Quốc Tế… đã từng là nạn nhân của những cuộc thảm sát do CSVN thực hiện. Sở dĩ CSVN ra sức tiêu diệt các đảng-phái-chống-Pháp-nhưng-không-theo-họ vì họ thừa biết rằng sau Đệ nhị Thế chiến, chế độ thuộc địa nhất định sẽ phải cáo chung; do đó , họ có nhu cầu tiêu diệt các đảng phái quốc gia trước khi đánh Pháp; sau khi triệt hạ các đảng phái quốc gia, họ sẽ giương cao “ngọn cờ dân tộc” giả hiệu để lừa bịp đồng bào và chiếm lĩnh “độc quyền kháng chiến” với sự tiếp tay góp sức của đại khối dân tộc!

*Tàn sát cả một làng Láng Linh mà cư dân là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo (1947)

Vụ thảm sát này bắt nguồn ở chỗ Phật Giáo Hòa Hảo kháng chiến chống Pháp nhưng chống luôn cả Việt Minh Cộng Sản (VMCS). Sau đây, xin trích một đoạn trong quyển “Thiên Đàng Treo” của nhà văn Xuân Vũ, người đã chứng kiến tận mắt vụ thảm sát (o).

*Tàn sát hàng vạn nông dân vô tội với chính sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc (1956)

Đây là một chính sách do Trung Cộng chỉ đạo và CSVN thi hành. Bề ngoài, chính sách nhằm hữu sản hóa nông dân bằng cách giết địa chủ để lấy đất chia cho nông dân. Nhưng với chính sách thuế khóa theo lối “bình nghị”, nông dân trở thành nô lệ của đảng CSVN. Ngoài ra, nó còn có tác dụng tiêu diệt các giai tầøng thù nghịch của giới vô sản để thỏa mãn lòng “hận thù giai cấp” của người CS.

*Tàn sát hàng vạn đồng bào tại cố đô Huế hồi Tết Mậu Thân (1968)

Vụ tàn sát tập thể, có hệ thống nói đây cũng bắt nguồn từ lòng hận thù và được thực hiện qua ngón nghề lừa bịp cố hữu của CSVN. Họ hận thù vì đồng bào đã không “tổng nổi dậy” như họ dự trù. Họ lừa bịp đồng bào bằng cách dùng đồng bào ra trình diện để chiêu dụ những người còn lẩn trốn: sau khi trình diện, đồng bào được họ cho về và được yêu cầu trình diện mỗi ngày. Những người còn lẩn trốn thấy láng giềng của mình an toàn khi ra trình diện, không còn e dè sợ hãi nữa và hăng hái ra trình diện “cách mạng”. Khi thấy không còn ai ra trình diện thêm nữa, họ ra lệnh cho đồng bào đào hầm để tránh pháo kích và không tập của “Mỹ Ngụy”: đồng bào đâu có ngờ rằng mình đang đào mồ chôn tập thể cho chính mình và bè bạn!

*Tàn sát trẻ thơ vô tội

Sau khi hiệp định đình chiến ký kết tại Paris có hiệu lực, CSVN vẫn tiếp tục pháo kích và họ đã pháo kích vào các trường học để tàn sát trẻ thơ vô tội; điển hình là trường tiểu học Cai Lậy và Song Phú (1974). Họ tàn sát trẻ thơ vô tội để trừng phạt và trả thù vì phụ huynh học sinh vẫn tiếp tục cho con em đi học, không tuân hành lệnh bãi khóa của họ.

*Tàn sát dân làng Tân Lập, Long Khánh

Sư Đoàn 18 BB và các đơn vị thuộc các quân binh chủng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cùng với dân quân cán chính Long Khánh đã anh dũng chận đứng sức tiến quân của CS, khiến cả mấy trung đoàn của họ bị tiêu diệt. Do đó, sau khi làm chủ tình hình, họ ra tay tàn sát dân làng Tân Lập để rửa hận cho mấy ngàn bộ đội “sinh Bắc tử Nam” của họ (1975).

*Trả thù thương bệnh binh VNCH tại Tổng Y Viện Cộng hòa và các quân y viện địa phương.

Sau khi chiếm được Tổng Y Viện Cộng Hòa và các quân y viện địa phương, bộ đội CS đã tống xuất các thương bệnh binh VNCH mặc dù các anh em này đang được tiếp huyệt và vô nước biển. Trưa ngày 30/4/75, nếu đi trên lộ trình từ ngã tư Phú Nhuận đến tổng Y Viện Cộng Hòa, chúng ta không sao cầm được nước mắt khi thấy anh em thương bệnh binh của chúng ta thất tha thất thểu trên đường Võ Di Nguy với túi máu hoặc nước biển trên tay. Không có một sự trả thù nào tàn nhẫn và vô nhân đạo hơn! (1975)

*Trả thù cả những người đã khuất.

Mồ mả của tử sĩ VNCH tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và các nghĩa trang quân đội tại các tỉnh đã bị CSVN tìm cách phá nát, có nơi bị san thành bình địa. Tại sao phải làm thế ?Họ muốn trả thù cả những người đã chết. Không có một vụ trả thù nào hèn hạ và ghê tởm hơn!

*Trả thù các chiến sĩ VNCH sa cơ thất thế.

Sau ngày 30/4/75, CSVN đã tập trung Quân cán chính VNCH vào các trại tù khổ sai để sỉ nhục, đày đọa. Hàng vạn người đã bị sát hại bằng nhiều cách: xử tử, bỏ đói cho đến chết; bệnh, không được chữa trị; chết vì kiệt sức…….. .Có những chiến sĩ VNCH mù cả đôi mắt hoặc bị cưa chân vẫn bị tập trung “cải tạo”. Quả đúng là một cuộc trả thù tàn bạo và đốn mạt!

*Trả thù vợ con các chiến sĩ VNCH đang bị tập trung “cải tạo”.

Các “vùng kinh tế mới” được họ dựng lên để đày ải vợ con của các chiến sĩ VNCH đang bị họ cưỡng bách lao động trong các trại tù khổ sai. Họ bịp rằng vợ con “tù cải tạo” chấp nhận “đăng ký” đi “kinh tế mới”, chồng cha sẽ sớm được trả tự do. Ai không tình nguyện “đăng ký”, họ sẽ có biện pháp cưỡng bách. Đi “vùng kinh tế mới” tức là mất nhà, mất cửa. Xin hãy nghe và nhớ suốt kiếp lời nói của một tên cộng sản trong cái gọi là “Uûy Ban Quân Quản” thành phố mang tên xác chết:” Nhà chúng nó, ta cấp cho cán binh ta ở; con chúng nó, ta đưa ra chiến trường làm bia đỡ đạn cho bộ đội ta; vợ chúng nó, ta chơi tùy hứng.” Nhớ suốt kiếp để không bao giờ nghe những lời ngon ngọt của CSVN, nhất là không bao giờ hưởng ứng cái NQ 36 của họ.

*Triệt tiêu tư sản mại bản

Đây là một hình thức cướp ngày của lũ “mafia đỏ”. Là một vụ cướp sát nhân, chiến dịch đánh tư sản mại bản đã giết hại không biết bao nhiêu là “kẻ thù của giai cấp vô sản”

*Tống xuất đồng bào ra biển cả.

Chính sách cai trị tàn độc của CSVN đã đẩy hàng triệu đồng bào ra biển cả để làm mồi cho hải tặc và sóng thần Biển Đông. Trong số hàng triệu người trốn chạy chế độ CS, theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, phân nửa đã đến bến bờ tự do, còn phân nửa kia đã lấy biển cả làm huyệt mộ. Bao nhiêu thiếu nữ Miền Nam đã bị hải tặc làm nhục rồi mang vào nội địa Thái Lan bán cho các động mãi dâm?

*Dung túng việc xuất cảng trẻ thơ, thiếu nữ Miền Nam làm nô lệ tình dục cho ngoại bang.

CSVN có đầy đủ phương tiện và phương cách ngăn chặn việc xuất cảng trẻ thơ và thiếu nữ để làm nô lệ tình dục cho ngoại bang. Nhưng họ không làm, vì ngăn chận sẽ làm họ mất đi một nguồn ngoại tệ đáng kể. Vả lại, họ còn phải sử dụng những phương tiện và phương cách nói trên trong việc đàn áp tôn giáo và đối phó với các phong trào đòi dân chủ và nhân quyền cho đất nước. Việc dung túng nói trên cũng là một cách trả thù người dân Miền Nam vì CSVN coi toàn dân Miền Nam – trừ bọn nằm vùng – là “ngụy dân”, có cái “tội” hiệp lực cùng chính quyền VNCH ngăn chặn nỗ lực thôn tính Miền Nam của họ trên dưới 20 năm.

Bảng liệt kê tội ác của CSVN vừa được trình bày, tuy có quá nhiều thiếu sót, nhưng cũng tạm đủ để cho thấy trong 75 năm qua, họ đã không ngớt dùng bạo lực và mọi phương cách để thỏa mãn hận thù và độc chiếm chính trường Việt Nam.

II. HIỆN TƯỢNG VÀ CHIÊU BÀI TRONG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN HÀ NỘI

Không như “bản chất”, “hiện tượng” có tính cách biến đổi, nay thế này, mai thế khác, tùy hoàn cảnh. Đừng quá ngây thơ để lầm lẫn “hiện tượng” với “bản chất”, một sự lầm lẫn với nhiều hậu quả tai hại đến mức không lường trước được. CSVN luôn luôn thi triển những “hư chiêu”, trình diễn hoặc đạo diễn những “hiện tượng”, đưa ra những chiêu bài để che dấu những điều họ muốn che dấu và nhất là để lừa bịp những người nhẹ dạ, dễ tin và làm cho những người này quên đi cái “bản chất” cố hữu của họ hầu tiếp tay với họ để cứu đảng, cứu chế độ bạo tàn của họ. Vài năm gần đây, các “hiện tượng” được trình diễn khá nhiều với các chiêu bài nào là “bộ phận máu thịt của dân tộc VN” (1), nào là “khúc ruột ngoài ngàn dặm”, nào là “xóa bỏ hận thù”, nào là “khép lại quá khứ”, nào là “tiến tới tương lai”, nào là”hòa hợp dân tộc”, nào là “đại đoàn kết dân tộc”…Thật ra, những khẩu hiệu này chỉ là tiếng kêu của con thần đanh đỏ mỏ, báo hiệu ngày tàn của một chế độ phi nhân. Tuy nhiên nếu chúng ta cả tin và hưởng ứng tiếng kêu của con thần đanh đỏ mỏ thì chế độ phi nhân ấy sẽ kéo dài và Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh hạt của Trung Cộng! Nhất định chúng ta không tin và phải thấy rằng đó chỉ là những “hiện tượng”, những chiêu bài chứ không phải”bản chất” của CSVN. Sau đây, xin điểm qua các chiêu bài (!) ghi trên:

*Khúc ruột ngoài ngàn dặm, Bộ phận máu thịt của dân tộc Việt Nam.

Các nhóm chữ này khiến người viết chạnh nhớ tới lời chửi bới thô bỉ của CSVN dành cho khối người Việt trốn chạy chế độ CS : bọn ma cô đĩ điếm, liếm gót giày đế quốc Mỹ, bọn bán nước, rác rưởi hôi tanh…

Ai thực sự là ma cô đĩ điếm? Tình trạng xã hội băng hoại của cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với “nghiệp vụ” xuất cảng trẻ thơ để làm nô lệ tình dục cho ngoại bang hầu vơ vét ngoại tệ về cho đảng đã cho ta thấy rõ ai là bọn ma cô đĩ điếm!

Ai liếm gót giày đế quốc, ai bán nước? Chính bọn ký và phê chuẩn các hiệp định dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng vào cuối năm 1999 và năm 2000!

*Xóa bỏ hận thù

Chắc chúng ta ai ai cũng còn nhớ câu kinh nhật tụng của Việt Cộng trong các trại tù khổ sai mang mỹ từ “trại cải tạo” :Tội ác của các anh trời không dung đất không tha, cách mạng thù các anh đến muôn đời.

Thế nào là tội ác? Hy sinh xương máu, hy sinh hạnh phúc bản thân để bảo vệ đất nước chống bọn tay sai cộng sản đệ tam không phải là tội ác. Đảng viên cao cấp hiếp dâm trẻ thơ đáng tuổi cháu ngoại, cháu nội mình, rồi dùng tiền tham nhũng để mong chạy tội mới là tội ác! (2). Dùng quyền lực để cưỡng dâm một “thiếu nữ miền cao”, rồi cho thuộc hạ thủ tiêu bằng một tai nạn xe hơi mới là tội ác!(3). Dâng đất, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp mới là tội ác!

*Quên và khép lại quá khứ để nhìn về tương lai.

CSVN kêu gọi người Việt hải ngoại quên và khép lại quá khứ! Quá khứ của ai? Và quá khứ nào?

VNCH và CSVN đều có cùng chung một quá khứ, nhưng ở hai phương vị khác nhau : nạn nhân và kẻ sát nhân, người bị cướp và kẻ cướp, người yêu-nước-là-thương-dân và kẻ yêu-nước-là-yêu-xã-hội-chủ-nghĩa, người bảo-vệ-tổ-quốc và kẻ dâng-đất-cho-Tàu…

Cái quá khứ mà CSVN kêu gọi “khép lại” chính là cái quá khứ đầy tội ác mà họ đã làm kể từ khi Staline, tên đồ tể của đảng CS Nga Sô, thai nghén ra đảng CSVN! Một phần rất nhỏ những tội ác nói đây đã được đề cập trong Phần I viết về “Bản chất” của CSVN.

CSVN kêu gọi chúng ta “hãy quên quá khứ” để nhập nhằng làm cho công luận nghĩ rằng chúng ta tiếp tục chống cộng vì chúng ta “cố chấp và giận lâu”(4). Sai. Hoàn toàn sai! Chúng ta tiếp tục chống CSVN vì họ tiếp tục tái diễn những tội ác mà họ đã phạm trong quá khứ.

CSVN mong muốn chúng ta quên quá khứ, quên những nỗi đau thương mà họ đã giáng lên đầu lên cổ dân tộc để họ dễ bề tái diễn những gì họ đã làm trong quá khứ. Cố Thủ tướng Anh quốc Winston Churchill, lúc sinh thời, đã cảnh giác:” Những ai không thuộc lịch sử hay quên lịch sử sẽ mang cái tội là làm cho nó tái diễn”. Vả lại, quá khứ không phải là gió thoảng, mây bay; nó vẫn còn nguyên vị trong tâm thức chúng ta, không sao quên được. Quên quá khứ, xóa bỏ hận thù, ta rơi vào cái bẫy sạâp của bạo quyền CS. André Malraux rất có lý khi ông viết:” Cần nuôi chút lửa bất mãn để tiếp tục chiến đấu”. Trường hợp của chúng ta, nếu quên quá khứ, quên hận thù, chúng ta sẽ không còn động lực để chiến đấu nghĩa là chấp nhận để CSVN tiếp tục thống trị đất nước và trấn áp dân tộc bằng chính sách cai trị bạo tàn mà họ học hỏi được từ hai tên đồ tể trong khối CS quốc tế: Staline và Mao Trạch Đông. Quá khứ ,hận thù nói đâykhông phải quá khứ hận thù của riêng ai mà là quá khứ hận thù của đất nước và của dân tộc đang bị “chủ nghĩa tam vô” thôn tính. Tư thù, có thể quên; quốc thù không thể quên; quên là đắc tội với tiền nhân.

Mặt khác, quá khứ, hiện tại và tương lai là ba giai đoạn của đời người, của một chế độ. Hiện tại nối dài quá khứ và chuẩn bị cho tương lai. Với CSVN, như chúng ta đã chứng kiến, quá khứ và hiện tại không có gì khác nhau: vẫn hận thù và hận thù! Vẫn khủng bố và khủng bố! Vẫn lừa bịp và lừa bịp! Rồi đây hiện tại sẽ trở thành quá khứ và tương lai sẽ là hiện tại, cứ thế ”bánh xe tiến hóa” quá-khứ-hiện-tại-tương-lai quay đều để nghiền nát mọi hy vọng vươn lên của dân tộc! Chừng nào cái “bánh xe tiến hóa” đó bị một đại động đập tan, chừng đó chúng ta hoặc con cháu chúng ta mới có dịp nhìn về một tương lai huy hoàng để tiến lên.

*Hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc.

Đó là những chiêu bài mà CSVN hô cho sướng miệng để lừa bịp những người không CS nhưng lại dễ tin CS, dễ tin CS vì không chịu “nhìn kỹ những gì CS làm” mà chỉ” nghe những gì CS nói”. Thật vậy, trọng tâm của chủ nghĩa CS là đấu tranh giai cấp, là vô sản chuyên chính, là điễu-4-hiến-pháp. Đã là vô sản chuyên chính và đấu tranh giai cấp , được tô đậm bởi điều-4-hiến-pháp thì làm thế nào có thể dung nhận đối lập được. Lenine đã khẳng định:” Ai không theo ta là chống ta và ai chống ta sẽ phải chết”(5). Không dung nhận đối lập thì làm thế nào chấp nhận đa nguyên, đa đảng! Không chấp nhận đa nguyên đa đảng và chủ trương diệt đối lập thì làm thế nào hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc được! Như vậy, “đại đoàn kết dân tộc” theo kiểu CS khác với “đại đoàn kết dân tộc” của người quốc gia . Người quốc gia quan niệm”đại đoàn kết dân tộc” là “cộng đồng đồng tiến”; không có giai cấp nào”chuyên chính “cả; nói khác đi, các tầng lớp trong xã hội giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến trong ý niệm “kẻ có cho người không có” chứ không phải” kẻ không có giết người có để có”! Theo CSVN, đại đoàn kết dân tộc phải được hiểu như sau:”Khúc ruột ngoài ngàn dặm có bổn phận mang chất xám và ngoại tệ về để cùng với bọn phản động trong nước phủ phục dưới chân đảng ta và sẵn sàng hô to “Đảng CS muôn năm”, rồi sau đó phải tuyệt đối im hơi lặng tiếng, đảng ban phát cho cái gì thì hưởng cái nấy, không được đòi hỏi, không được chống đối, nếu không sẽ được cho là những tên gián điệp cực kỳ nguy hiểm hoặc những tên lợi dụng dânchủ.(6).

III . NGHỊ QUYẾT SỐ 36-NQ/TU NGÀY 26/3/2004 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ ĐẢNG CSVN

Sau chuyến Mỹ du hồi tháng 6/2003, viên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao CSVN trở về nước và tuyên bố:” Trong thời gian tới, cần quán triệt tinh thần chủ động, sẵn sàng đối thoại thẳng thắn và xây dựng với những bước đi và biện pháp cụ thể, thực hiện chủ trương hòa hợp dân tộc, khép lại quá khứ, tiến tới tương lai……….. .”

Chín tháng sau đó, vào ngày 26/3/2004, Bộ Chính Trị đảng CSVN ban hành Nghị quyết 36 về “Công Tác Đối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài”. Thật ra, nghị quyết này chẳng có điều gì mới mẻ ngoài tính cách ồn ào và công khai của nó. Thật vậy, ngay từ đầu thập niên 90, và có lẽ trước đó nữa, CSVN đã bắt đầu chú ý đến sự thành công vượt bực tại hải ngoại của hàng triệu người mà trước kia họ dán cho nhiều nhãn hiệu như “ma cô, đĩ điếm, bọn bán nước, bọn liếm gót giày đế quốc Mỹ, rác rưởi hôi tanh….. ” Với quyển “Về Người Việt Định Cư Tại Nước Ngoài” của Nguyễn Ngọc Hà, Trưởng ban Việt Kiều, thống thuộc Trung ương Đảng, VC đã đề ra kế hoạch chiêu du ïCộng đồng Người Việt Hải Ngoại . Vào đầu năm 1999, Thủ tướng VC Phan Văn Khải ký quyết định số 210/1999/QĐ-TTg cũng cùng mục đích nói trên. Đến năm 2001, Phó thủ tướng VC Nguyễn Mạnh Cầm ký quyết định số 114/2001/QĐ-TTg, bổ sung và chi tiết hóa quyết định số 210/1999 nói trên nhằm chiêu dụ “bọn rác rưởi, hôi tanh” đem đồng tiền thơm phưng phức của “chúng” về dâng cho Đảng! Để phát động chiến dịch chiêu dụ nói trên, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam của Phạm Thế Duyệt và Uûy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do Nguyễn Đình Bin, Thứ trưởng thường trực Bộ ngoại giao VC làm chủ tịch, đã cho ra đời Uûy Ban Vận Động Thành Lập Hội Liên Lạc Người Việt Nam Ở Nước Ngoài. Uûy ban này đã bắt đầu hoạt động từ ngày 23-4-2001.

Sau đây người viết xin đề cập:

A.Nội dung của NQ 36
B.Tác dụng của NQ 36
C.Cảnh giác của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại

A. Nội dung của NQ 36

Một điểm khá “lý thú” cần nêu ở đây trước khi bàn về nội dung của NQ. Đó là chiêu bài “đại đoàn kết dân tộc” được nhắc đi nhắc lại ít nhất là 5 lần trong bản NQ. Chiêu bài này Hồ Chí Minh đã từng sử dụng vào năm 1946 khi thành lập Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Gia và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. “Đại đoàn kết dân tộc” được thực thi thế nào mà Cố vấn Tối cao Vĩnh Thụy, Phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam phải tìm đường lưu vong? Người viết đã đề cập chiêu bài này trong phần II (Hiện tượng và Chiêu bài trong chế độ CSVN).

Nghị Quyết 36 gồm có 4 phần:

1.Tình hình và công tác đối với người VN ở nước ngoài thời gian qua

Trong đoạn đầu của phần 1, NQ “kiểm kê tài sản” của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại:”Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghịêp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao, một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu ,đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại”.

Thử hỏi những thành phần của “cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” không vượt thoát khỏi sự kềm kẹp của CSVN để sống tại các nước có tự do, có dân chủ, có nhân quyền thì cộng đồng đó có được những điều tốt đẹp như NQ 36 đã muối mặt mô tả hay không ?

Đoạn giữa của phần 1 chứa nhiều “hầm chông”, được ngụy trang bằng “hoa thơm cỏ lạ”, chứ không phải bằng “rác rưởi hôi tanh”. Xin quan sát các “hoa thơm có lạ” dưới đây, nhưng phải đề cao cảnh giác vì dưới lớp hoa lá đó là những ”hầm chông tẩm thuốc độc”:

-Mặc dù sống xa tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương.”

Vâng, người Việt tỵ nạn CS sống xa tổ quốc. Tổ quốc nói đây là Tổ Quốc Việt Nam, chứ không phải cái “Tổ quốc xã nghĩa” của VC!. Tinh thần yêu nước của người Việt tỵ nạn CS nằm trong ý niệm “yêu nước là thương dân” chứ không phải là “yêu nước là yêu XHCN”. Người Việt tỵ nạn CS giữ gìn truyền thống văn hóa, văn hóa nói đây là văn hóa với “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” chứ không phải thứ văn hóa vô thần đầy hận thù và gian dối!

-“Đồng bào bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết dân tộc của đảng và nhà nước”

“Công cuộc đổi mới” do CSVN thực hiện chỉ đem lại kết quả là sự cách biệt giữa người nghèo và kẻ giàu ngày càng sâu đậm hơn. Trên dưới 30 năm thống trị miền Nam, CSVN vẫn còn tìm biện pháp “xóa đói giảm nghèo”. Càng đổi mới, số vụ tham nhũng càng tăng, các ổ mãi dâm càng nhiều, các nghiệp vụ với chữ “ôm” theo sau càng bành trướng, ma túy càng dễ mua…Thử hỏi “đổi mới” theo kiểu đó, ai là người yêu nước lại chẳng động lòng, ai là người có liêm sỉ lại dám “hoan nghênh”!

Ai là người có óc thông minh dưới trung bình chút đỉnh cũng không thể hoan nghênh “chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc” theo kiểu của VC. Chính sách này đã được nói nhiều ở phần trên của bài này.

Cũng ở đoạn giữa của phần 1 này, NQ đã nêu lên những điều không đúng sự thật:

-“Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước”.

Phần trên,người viết đã bàn nhiều về “công cuộc đổi mới”. Ở đây chỉ cần nhắc một điều: cái thời dấu diếm, che đậy, bưng bít để lừa bịp đã qua lâu rồi. Ngày nay, nhất động, nhất tĩnh xẩy ra trong nước, “bọn bán nước, liếm gót giày đế quốc Mỹ” ở hải ngoại đều biết và biết rất rõ, rất đúng. Chỉ tội cho đồng bào quốc nội, giờ này vẫn còn bị bưng bít và lừa bịp.

-Một số ít người đi ngược lại lợi ích của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại và VN”

CSVN có cái tật, đến chết cũng không bỏ được. Đó là tự đồng hóa mình với đất nước và dân tộc.. Không phải “một ít người” mà đại khối đồng bào ở hải ngoại đều chống đảng CSVN chứ không hề “đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc”. Đại khối đó không “ra sức chống phá đất nước” mà nỗ lực tìm phương cách tiêu diệt CS đang tàn phá đất nước. Đại khối đó không “phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với VN” mà vận động với các đại diện dân cử của các nước sở tại để họ thấy sự tàn bạo, phản dân chủ, chà đạp nhân quyền của đảng CSVN để họ hợp tác với dân tộc VN trong việc khôi phục tự do, dân chủ và nhân quyền cho VN, đồng thời tạo áp lực để chính phủ của họ chấm dứt viện trợ cho chế độ phi nhân đang trấn áp dân tộc VN.

-“Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng và đất nước, là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng.”

Khi VC đặt vấn đề “giao lưu văn hóa”, họ đã mặc nhiên công nhận có hai nền văn hóa: văn hóa quốc nội mà cốt lõi là chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh và văn hóa hải ngoại đặt trên chủ nghĩa Quốc gia Dân tộc. Vấn đề giao lưu văn hóa đã được VC nói tới từ lâu và trên thực tế đã được thực thi nhưng chỉ có một chiều. Như vậy, khi cho rằng nhu cầu giao lưu văn hóa giữa quốc nội và hải ngoại “trở nên bức thiết” phải chăng VC đã tỏ ra nóng lòng trong việc nhuộm đỏ văn hóa hải ngoại bằng văn hóa Marxist? Người xưa đã dạy: Văn Hóa còn, Dân Tộc còn. Như vậy ta có thể nói, Văn hóa Marxist còn, chế độ CS còn. Chế độ CS còn, Dân Tộc VN còn điêu đứng!

-“Nhu cầu giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và bức thiết song chưa được đáp ứng”

Cách đây 30 năm, cụ Bùi Vân Bảo, một thi sĩ nổi tiếng và cũng là một nhà giáo lão thành định cư tại Canada, đã có hai câu đối nhằm khuyên phụ huynh chú ý đến việc dạy con em học và nói tiếng Việt:

Chỉ sợ đàn con quên tiếng Việt
Đừng lo lũ trẻ dốt Anh văn

Sau đó, Cụ đã soạn vần Việt ngữ cho trẻ em. Vào năm 1978, Cụ đã bỏ công sức sưu tầm, chú thích và xuất bản hai tập Thi Ca Cổ Điển. Dần dần về sau nhiều Trung tâm dạy Việt ngữ đã khai giảng tại các tiểu bang, nhất là tại California và miền Đông Hoa Kỳ. Ngoài ra, các khóa tu nghiệp sư phạm cũng đã được tổ chức. Mới đây, khóa thứ 16, với chủ đề “ Trách Nhiệm Chung Của Người Việt Hải Ngoại Trong Việc Bảo Tồn – Phát Triển Ngôn Ngữ Và Văn Hóa Việt”, đã được khai giảng ngày 6-8-2004 với 172 khóa sinh của 42 Trung Tâm Việt Ngữ khắp nơi đổ về miền Nam California. Trong buổi lễ bế giảng ngày 8-8-2004, ban tổ chức khóa tu nghiệp đã giới thiệu bộ sách giáo khoa đã được ban đại diện các Trung tâm Việt ngữ ấn hành. Đây là một bộ sách căn bản, được soạn rất công phu, có sự kết hợp giữa phương pháp giảng dạy khoa học và nội dung phong phú đầy tinh thần dân tộc (Người Việt online, ngày 9-8-2004)

Như vậy, bảo rằng “nhu cầu giữ gìn và bảo vệ tiếng Việt…chưa được đáp ứng” là xuyên tạc, một lần nữa, nói lên bản chất ăn gian nói dối của họ.

Ở đoạn cuối của phần 1, NQ nhận định rằng “Chiến dịch đánh tư sản mại bản ở nước ngoài” chưa “đạt yêu cầu”, cần phải “hạ quyết tâm” hơn nữa……”Các chính sách đã ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc (lại đại đoàn kết nữa!), chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước…”, “Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước (thật ra là công cuộc cứu đảng), nhất là về trí thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người VN ở nước ngoài.”

2. Chủ trương và phương hướng công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới.

Phần này gồm 4 điểm, lải nhải những điều đã nói ở phần I và sẽ nói ở phần IV.

1.”Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Lại chiêu bài “đại đoàn kết toàn dân tộc”! Người viết đã bàn nhiều về chiêu bài này, xin miễn lập lại

2.”Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc VN, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường hợp tác hữu nghị giữa nước ta và các nước”.

Tục ngữ có câu “ Có tiền mua tiên cũng được”. Ứng dụng vào trường hợp này rất đúng:” Tiềm lực kinh tế nhất định…trình độ học vấn và chuyên môn cao…vị trí quan trọng trong các cơ quan.” (phần 1 của NQ 36) là chiếc đũa thần đã biến “ bọn ma cô, đĩ điếm, rác rưởi hôi tanh” thành “ bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt.”Tiếp theo đó NQ 36 ghi:

“Nhà nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người VN ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế.”

Sống ở quốc gia nào, đồng bào tuân hành luật pháp của quốc gia đó và quyền lợi của đồng bào được chính luật pháp của quốc gia đó bảo vệ. Luật pháp của các quốc gia dân chủ Tây phương không phải là luật rừng, muốn bỏ tù, muốn quản chế ai thì cứ chụp cho người ấy cái mũ “gián điệp” hoặc “lợi dụng dân chủ” hoặc “ xâm phạm quyền lợi của nhà nước”. Như vậy, đồng bào hải ngoại đâu cần “nhà nước ta thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý để đồng bào ổn định”.Đồng bào đã ổn định cuộc sống từ lâu rồi kia mà, chính NQ 36 cũng xác nhận trong phần I. Chẳng lẽ “nhà nước ta thỏa thuận với các nước hữu quan” để đồng bào hiếp dâm trẻ thơ 13 tuổi, rồi có thể dùng tiền để chạy tội như trường hợp của một Uûy viên Trung ương đảng CSVN có chức vụ ngang hàng thứ trưởng?

Đặc biệt, trong điểm này, NQ 36 đã ra chỉ thị cho bọn nằm vùng “ chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc”. “Các biểu hiện” này không có gì khác hơn là các cao trào vận động tự do, dân chủ và nhân quyền cho VN.

– Điểm 3 và 4 không có gì đáng bàn cãi vì chỉ lập lại những gì đã nói ở phần I và sẽ nói ở phần IV.

3. Nhiệm vụ chủ yếu.

NQ 36 đề ra 9 nhiệm vụ chủ yếu mà đảng, đoàn, mặt trận tổ quốc, chính phủ “hạ quyết tâm” chu toàn.

1.”Tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương đất nước.”

Hầu hết người Việt hải ngoại là thường trú nhân hoặc đã có quốc tịch quốc gia nơi họ định cư. Họ đã ổn định cuộc sống, làm ăn phát đạt, hội nhập vào đời sống xã hội tại các nước sở quan từ lâu, rất lâu trước khi nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN được Hoa Kỳ cho phép đặt “Tòa Đại Sứ” tại Hoa Thịnh Đốn. Sở dĩ như vậy là vì các quốc gia nơi đồng bào định cư có tinh thần thượng tôn luật pháp chứ không dùng luật rừng để khống chế dân chúng. Như vậy, đồng bào không cần bất cứ ai “hỗ trợ”. Còn việc “gắn bó với quê hương đất nước”, nó bắt nguồn từ tình tự dân tộc, từ lòng yêu nước chân thật, không cần ai “tạo điều kiện và hỗ trợ”. Có ai “hỗ trợ” đâu mà đồng bào hải ngoại đã nhiều phen bày tỏ sự “gắn bó “đó: vì “gắn bó với quê hương đất nước” mà người Việt hải ngoại đã lên tiếng nguyền rủa và kết án bọn dâng đất dâng biển cho Trung Cộng…

2.”Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước.”

Đối với CSVN, trí thức chỉ có thể dùng làm “phân bón” chứ làm thế nào đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước được! Người trí thức không bao giờ quên trường hợp của triết gia Trần Đức Thảo và luật sư Nguyễn Mạnh Tường cũng như khẩu hiệu “Trí, phú,ù địa, hào; đào tận gốc, bốc tận rễ.”

3.” Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút người VN ở nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh trong nước.”

Tệ nạn tham nhũng còn phủ trùm đất nước thì đừng hòng thu hút đầu tư. Những trường hợp nhà nước tìm cách lấy sạch tài sản của kiều bào tin lời CSVN mang tiền về đầu tư không phải là ít: Nguyễn Trung Trực ở Uùc, Trương vĩnh Bình ở Hòa Lan, LHS ở Hoa Kỳ… Còn nhiều đồng bào hải ngoại khác mang tiền về VN kinh doanh bị CSVN đem luật “xã nghĩa” áp dụng, phải trở về quốc gia nơi định cư với hai bàn tay trắng, nhưng vì tự ái không thuật lại trường hợp “bỏ của chạy lấy người” của mình.

4.”Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập họp với mục đích đoàn kết người VN ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ…”

Từ năm 1976, người Việt tỵ nạn CS đã bắt đầu thành lập các cộng đồng, các hội đoàn, các hội ái hữu, các hội tương tế để giúp đỡ lẫn nhau và khi cần, đồng bào đã đoàn kết chặt chẽ với nhau đâu cần CSVN “đa dạng hóa các phương thức vận động, các hình thức tập họp”. Nếu đồng bào không đoàn kết thì làm sao đập tan được âm mưu của CSVN trong vụ Trần Trường, thành công trong chiến dịch CỜ VÀNG, xây dựng được Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở Nam California, cấm cửa phái đoàn CSVN không được bén mảng tới hai thành phố Garden Grove và Westminster ở Nam California, vận động được Hạ Nghị Viện Hoa Kỳ thông qua dự luật nhân quyền cho VN…Cần ghi nhận rằng thế hệ trẻ đã đóng góp rất nhiều vào sự thành công của các cuộc vận động nói trên.

Với nhiệm vụ nêu trên, phải chăng CSVN muốn biến các tổ chức đương hữu của người Việt hải ngoại thành những tổ chức quốc doanh để dễ bề thao túng và yêu cầu ủng hộ định kỳ hoặc bất thường ? có điều chắc chắn CSVN sẽ tung tiền để thuê bọn tay sai nằm vùng trong các cộng đồng lập thêm những hội đoàn mới đối nghịch với các hội đoàn đương hữu, nghĩa là xé nát các cộng đồng thành ra nhiều mảnh nhỏ!

Cũng trong nhiệm vụ thứ tư này, CSVN “chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người VN ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với nhà nước và chế độ ta.”

Tiếp xúc để làm gì? Để dò la gia cảnh của chúng ta, để yêu cầu chúng ta cho con em tham dự trại hè, các cuộc chơi ngoài trời, các lớp học Việt ngữ do họ tổ chức, mời chúng ta tham dự các cuộc nói chuyện”bỏ túi” của họ, nhất là để yêu cầu chúng ta đóng góp định kỳ và bất thường, giúp “nhà nước ta phát triển đất nước”.

“Người Việt ở nước ngoài” không có bất cứ một thứ mặc cảm nào với CSVN. Viết như NQ 36 là hỗn, là trịch thượng. “Người Việt ở nước ngoài” không có mặc cảm với bất cứ ai mà chỉ có một nhận định, một quyết tâm và một niềm hãnh diện. Nhận định:CSVN đàn áp tôn giáo, chà đạp nhân quyền, tiêu diệt dân chủ, dâng đất dâng biển cho Trung Cộng, cố tình làm cho xã hội băng hoại, để dễ bề thống trị, đang dìm đất nước xuống vũng lầy lạc hậu và sẽ dâng VN cho Tàu để tái tạo một thứ “Cửu Chân, Nhật Nam” tân thời. Quyết tâm:Tạo điều kiện tiên quyết để VN vươn lên bằng cách giải thể chế độ CSVN. Một niềm hãnh diện: Dân quân miền Nam đã chiến đấu một cách anh dũng chống lại cả tập đoàn CS quốc tế gồm Liên Bang Xô Viết, Trung Cộng, Bắc Hàn, Cuba, Khối CS Đông Âu và CSVN; người Việt tỵ nạn CS còn hãnh diện về hai sự kiện lịch sử: Đập tan trận Tổng công kích Tết Mậu Thân của CSBV và trận hải chiến Hoàng Sa vào hồi 10:20 sáng ngày 19-1-74 giữa Hải quân VNCH và Hải quân Trung Cộng.

5.”Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người VN ở nước ngoài nhất là cho thế hệ trẻ”

Vấn đề này người viết đã phân tích ở phần trên. Ở đây, xin nói về ý đồ của CSVN. Tâm thức của trẻ thơ như tờ giấy trắng, trên đó muốn vẽ gì thì vẽ. Mở các lớp dạy tiếng Việt cho trẻ thơ với sách giáo khoa do CSVN biên soạn, với các giáo viên do họ cử đến, CSVN chỉ nhằm nhồi sọ con cháu chúng ta với những giáo điều Mác Lê và “tư tưởng Hồ Chí Minh”, những giáo điều và tư tưởng chống lại ý thức quốc gia dân tộc. Sự nhồi sọ này sẽ biến mỗi gia đình người Việt hải ngoaị thành một địa ngục trần gian, trong đó con chống cha mẹ, cháu chống ông bà.

NQ 36 còn đề ra nhiệm vụ “Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người VN ở nước ngoài”. Trong các trại hè này sẽ có nhiều bài thuyết trình. Thuyết trình về đề tài gì? Trước hết các trại viên sẽ được học tập NQ 36, các chiêu bài “hòa giải, đại đoàn kết toàn dân tộc. xóa bỏ hận thù. khép lại quá khứ, nhìn về tương lai, công cuộc đổi mới, tư tưởng Hồ Chí Minh”… Nói tóm lại, nhân viên”sứ quán”CSVN sẽ thuyết trình để các trại viên có một cái nhìn về các đề tài nói trên theo như ý họ muốn. Nhưng họ sẽ thất bại bởi lẽ thanh thiếu niên VN ở hải ngoại không quá ngây thơ như họ tưởng!

6.”Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác thông tin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hình đất nước và chính sách của đảng và nhà nước…Hỗ trợ việc ra báo, mở đài phát thanh”

Muốn hiểu đúng tình hình đất nước, người Việt tỵ nạn chỉ nghe đài “Tiếng Nói Hoa Kỳ” hoặc “Đài Á Châu Tự Do” vì các đài này chỉ làm công tác thông tin chứ không làm công tác tuyên truyền! Các báo, các đài phát thanh, truyền hình VC vừa “thông tin”, vừa “tuyên truyền”. Thông tin thì bưng bít, tuyên truyền thì lừa bịp. Như vậy, nghe đài, đọc báo VC, làm sao đồng bào hải ngoại hiểu đúng tình hình đất nước được? Về chính sách của “đảng và nhà nước”, không cần nghe đài, không cần đọc báo VC, chúng ta cũng thừa biết đài và báo ấy tô son điểm phấn các chính sách của đảng và nhà nước VC; nhưng thực chất, các chính sách ấy chỉ là những chiêu bài lừa gạt dân chúng, chẳng hạn như “chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc”, “chính sách hòa hợp”, “chính sách đổi mới”, “chính sách về tôn giáo”…

7.”Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền nếp việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng.”

Đây là vấn đề nội bộ của CSVN trong nước và bọn tay sai ở hải ngoại. Tuy nhiên, việc “khen thưởng” này có thể gây chia rẽ và tạo nghi kỵ trong cộng đồng người Việt hải ngoại: Một ngày nào đó, bỗng nhiên đồng bào thấy tên ông Chủ Tịch cộng đồng của mình trong một Bản Tuyên Dương của VC. Đồng hương sẽ nghĩ gì? Có nhiều đồng hương cho rằng đây chỉ là trò chơi bẩn của VC; nhưng cũng có nhiều đồng hương cho rằng “tên chủ tịch” này thực sự đã trở cờ; nhiều đồng hương khác tỏ ra dè dặt với đương sự và sẽ không còn cộng tác chặt chẽ với cộng đồng như trước nữa…!

8.”Đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài”

Một lần nữa, xin nhắc lại: “Cộng đồng người Việt ở nước ngoài” từ 30 năm nay đã được luật pháp văn minh của “nước ngoài” “ bảo hộ và bảo vệ quyền lợi” một cách rất hữu hiệu; “người Việt ở nước ngoài” chưa hề bị chính phủ các “nước ngoài” cướp giựt qua chánh sách đổi tiền, họ cũng chưa hề bị chụp mũ “gián điệp” hoặc “lợi dụng dân chủ”, hoặc “xâm phạm quyền lợi của nhà nước” để bị cầm tù mà không được xét xử; người viết cũng chưa hề nghe” người Việt ở nước ngoài” bị “quản chế”. Vậy xin đừng” đẩy mạnh công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài”.CSVN nên “đẩy mạnh công tác”cứu vớt các thiếu nữ nghèo khó của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bị “đảng và nhà nước ta” đồng lõa trong việc gả bán làm vợ cho các tên khuyết tật hoặc bạo dâm ở Đài Loan. Xin đọc một đoạn ngắn trong bản tin Người Việt online ngày 12/8/2004:” Một bản tin từ địa phương cho hay, cô Đoàn Nhật Linh, 21 tuổi, đã nộp đơn kiện người chồng Đài Loan về tội tra tấn hành hạ, bỏ đói cô từ tháng 7/2002 đến tháng 2/2003 rồi chở cô đi vất ở một chỗ vắng. Nhờ có sự giúp đỡ của người qua đường, cô được vào bệnh viện cấp cứu khi chỉ còn 27 kilô, với nhiều dấu vết tra tấn còn trên thân thể. Câu chuyện này đã gây căm phẫn cho cộng đồng người Việt khắp thế giới trong khi nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn giữ yên lặng, tương tự như khi người Việt Nam khắp nơi phản ứng mạnh mẽ khi website bán đấu giá ở Đài Loan quảng cáo bán 2 cô gái Việt Nam cho ai trả giá cao nhất.” Ngoài ra, CSVN cũng nên”đẩy mạnh công tác bảo vệ” người VN ở Nga đang bị người địa phương kỳ thị : hành hung, đả thương, đốt chợ…”Một công tác khác mà CSVN cần “đẩy mạnh”, là giải thoát các trẻ em năm bảy tuổi bị “đảng và nhà nước ta” a tòng với bọn tú bà xuất cảng sang Miên để làm gái điếm theo lối khẩu dâm!!!

9.”Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại các cơ quan đại diện ngoại giao VN ở những nơi có đông người VN sinh sống”

Đám cán bộ này sẽ len lỏi vào cộng đồng, làm quen với người Việt tỵ nạn. Sau khi đã trở nên thân thiết, chúng sẽ dở trò rỉ tai, bôi nhọ những người quốc gia chống cộng. Ngoài ra, chúng ta cần nhớ chiến thuật” trồng người ,gây giống” của VC trong thời gian chờ tập kết tại Nam Ngãi Bình Phú, sau hiệp định đình chiến ngày 20/7/54.

4. Tổ chức thực hiện.

Trong phần này, NQ 36 phân công phân nhiệm cho các cơ cấu của đảng CSVN từ Ban bí thư xuống đến tỉnh ủy, thành ủy của họ nhằm thực hiện NQ:

-“Phổ biến rộng rãi NQ đến cán bộ, đảng viên, và mọi tầng lớp nhân dân trong nước và đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.”

Nhờ đó mà Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn CS mới biết CSVN đã công khai hóa chiến dịch nhuộm đỏ Cộng đồng người Việt hải ngoại chúng ta bằng cách đánh phá, gây chia rẽ, chiêu dụ, trục lợi…một chiến dịch mà chúng đã phát động một cách âm thầm lặng lẽ từ bao nhiêu năm qua.

-“Cụ thể hóa nội dung NQ 36 thành chương trình hành động”.

Để cụ thể hóa các chỉ thị của Bộ chính trị ghi trong NQ 36, Thủ tướng VC đã “sản sinh” ra cái gọi là Quyết định số 110/2004/QD/TU ngày 26/3/2004 ấn định “chương trình hành động” với 10 công tác phải thực hiện. Các công tác này thực ra chỉ rút ra từ “9 nhiệm vụ chủ yếu” mà người viết đã có dịp phân tích. Chúng chứa toàn những chiêu bài có tác dụng ru ngủ, chiêu dụ đồng bào và phá nát cộng đồng người Việt hải ngoại.

-Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy có liên quan đến người VN ở nước ngoài”

Hiến pháp năm 1992 của VC công nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thế mà vào ngày 18/6/2004, Uûy ban thường vụ của quốc hội VC đã thông qua pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm hạn chế tới mức tối đa quyền tự do này. Pháp lệnh nói đây có hệ cấp pháp lý thấp hơn một đạo luật vì do Uûy ban thường vụ thông qua chứ không do quốc hội thảo luận và biểu quyết. Thế mà nó lại đi ngược lại văn kiện tối cao trong hệ cấp pháp lý là hiến pháp. Vậy thử hỏi “ các văn bản pháp quy có liên quan đến người VN ở nước ngoài”, nhằm chiêu dụ, ve vãn kiều bào, sẽ có giá trị như thế nào ? Chắc chắn các “văn bản” ấy sẽ bị ném vào sọt rác bất cứ lúc nào VC muốn. “Hãy nhìn kỹ những gì CS làm, đừng nghe(hay đọc) những gì CS nói (hay viết)!

– “Theo dõi việc thực hiện NQ và tổ chức kiểm tra định kỳ, nghe báo cáo về tình hình công tác đối với người VN ở nước ngoài”

Công tác này do Ban bí thư đảng CSVN đảm trách với sự trợ giúp của “Ban cán sự đảng ngoài nước”. Như vậy, VC đã xác nhận “cán sự đảng” đang lềnh khênh ở nước ngoài. Người Việt trong các cộng đồng nên cố gắng chiêu hồi họ trở về với chính nghĩa dân tộc hoặc đề cao cảnh giác để họ không xâm nhập cộng đồng!

Qua phần phân tích và trình bày trên đây, người viết xin nhận định xem VC muốn gì khi vội vã ban hành NQ 36.

B. Tác dụng của NQ 36.

Theo thiển ý, khi vội vã ban hành NQ 36, Bộ chính trị VC nhằm tạo 4 loại tác dụng : ru ngủ, chiêu dụ, đánh phá., thi hành diễn biến hòa bình đảo ngược. Sự vội vã nói đây được ghi nhận qua sự soạn thảo NQ 36 : dài dòng văn tự, nhiều điệp ý, nhận định sai lầm, đầy hoang tưởng, ý đồ quá lộ liễu, nhất là xem thường sự hiểu biết của Cộng đồng người Việt hải ngoại về bản chất lừa bịp của CSVN.

1.Tác dụng ru ngủ

Từ khi chiếm được miền Bắc vào năm 1955 cho đến 5 năm sau khi thôn tính được miền Nam, VC không hề tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Bỗng dưng năm 2001, họ cử hành Lễ Giỗ Tổ một cách trọng thể và sau đó họ ban hành NQ số 35/NQ/TU ngày 9/2/2004 quy định các ngày đại lễ trong hai năm 2004-2005 trong đó có ghi Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Đây là một sự việc mới lạ chưa từng thấy trong gần nửa thế kỷ qua! Tại sao lại có “hiện tượng về nguồn” nói đây? Phải chăng VC đã thay đổi tư duy? Người viết không nghĩ như thế. Xin nhắc lại lời nói của văn hòa Solzenitsyne:” Đi xe đạp từ mặt đất lên mặt trăng còn dễ hơn là làm cho CS từ bỏ bạo lực và thay đổi tư duy”. VC không thay đổi tư duy, thế tại sao trong gần nửa thế kỷ, họ bỏ mặc Đền Hùng cho gió mưa tàn phá, cho cỏ dại ngập lối đi, cho muông thú làm hang ổ, bỗng nhiên năm 2001, họ bỏ ra hàng tỷ bạc để tái chỉnh trang Đền Hùng và tưng bừng tổ chức Lễ Giỗ Tổ như đã nói trên? Phải chăng họ muốn sử dụng đại lễ này như một phương tiện nhằm xoa dịu cơn phẫn nộ của quần chúng và làm cho quần chúng lãng quên tội ác của họ trong việc lén lút ký kết vào cuối năm 1999 và năm 2000, hai hiệp định dâng đất dâng biển cho Trung Cộng?

Theo thiển ý, khi ban hành NQ 36, Bộ chính trị VC cũng nhằm vào tác dụng ru ngủ, nghĩa là làm cho người dân trong nước và người tỵ nạn CS lãng quên các vấn đề sau đây vì mãi tìm phương pháp để vô hiệu hóa NQ 36!

-Việc quốc hội VC phê chuẩn hai hiệp định dâng đất ,dâng biển cho Trung cộng.

-Vấn đề Tây Nguyên với hàng trăm đồng bào Thượng bị CSVN thảm sát và hàng ngàn đồng bào Thượng khác phải trốn vào rừng, chết vì đói lạnh hoặc phải bỏ xứ mà đi!

-Nạn tham nhũng “hết thuốc chữa” của các “quan chức” CSVN từ thượng tầng đến hạ đẳng.

-Chiến dịch đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền do VC tiếp tục phát động với “pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo”sẽ có hiệu lực vào ngày 15/11/2004

-Chính sách “đem con bỏ chợ” trong việc xuất khẩu công nhân để làm “nô lệ” hầu trả những món nợ khổng lồ cho các nước “xã hội chủ nghĩa anh em”.

-Xuất cảng trẻ thơ và thiếu nữ để phục vụ tình dục cho ngoại bang hầu thu tiền về cho đảng.

-Nạn mãi dâm, ma túy đang tràn ngập hai thành phố Saigon, Hà Nội và các tỉnh le.û

Một vấn đề khác có tính cách sinh tử đối với CSVN mà họ cố tình dấu diếm hoặc làm cho toàn dân quốc nội lẫn hải ngoại không chú ý tới…Đó là “Loạn Trào Ca” hay “Loạn Ba Đình” tức sự rạn nứt trầm trọng trong hàng ngũ chóp bu của CSVN. Đây có lẽ là vấn đề gây nhiều bối rối và lo âu cho VC.

Sự rạn nứt nói trên đã có từ lâu trong đảng CSVN với vụ án “xét lại chống đảng”, với sự hạ tầng công tác Võ Nguyên Giáp, với sự sát hại các tướng VC, tay chân của Võ Nguyên Giáp và là đại công thần của chế độ như Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Trần Bình, Đinh Đức Thiện, các nghi án về cái chết của Phạm Hùng và Trường Chinh Đặng Xuân Khu(7). Mới đây, Thượng tướng VC Nguyễn Nam Khánh (NNK) đã gửi Bộ chính trị CSVN một bức thư đề ngày 17/6/2004 tố cáo một sự “tàn sát chính trị” do Tổng cục 2( Tổng cục tình báo, quân báo và phản gián) thuộc Bộ quốc phòng CSVN, thực hiện bằng cách bịa ra một tên có bí danh là T4 “nằm trong CIA để mật báo nhằm “vu khống” giới lãnh đạo thượng tầng của VC :giới này đã tiếp xúc và nhận sự chỉ đạo của CIA! Đám lãnh đạo thượng tầng này gồm những ai? NNK cho biết T4, “nằm vùng” trong CIA, đã nêu các tên tuổi sau đây: Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Mai Chí Thọ, Trương Tấn Sang, Võ Trần Chí, Bùi Thiện Ngộ, Võ Viết Thanh,, Lê Văn Dũng, Nguyễn Nam Khánh, Phan Diễn…Thực ra bức thư của NNK không có gì mới lạ, nó bắt ngườn từ sự tranh chấp giữa hai đại tướng CSVN là Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Anh vào năm 1991 và những năm về sau cho đến ngày nay. Tuy nhiên bức thư của NNK có nhiều chi tiết hơn các văn bản được phổ biến trước đây và có tác dụng nguy hại hơn cho sự “đoàn ketá nhất trí” và “nền tảng” của đảng CSVN.

Liệu NQ 36 và sự ồn ào quanh nó có thể làm cho người dân quốc nội và đồng bào hải ngoại không còn lưu tâm đến các vấn đề nêu trên nữa hay không ? Người viết nghĩ rằng không bởi một lẽ rất đơn giản là các vấn đề kể trên được VC lập đi lập lại hàng ngày: tham nhũng, cấu xé lẫn nhau để giành ngôi vị, đàn áp tôn giáo, chà đạp nhân quyền, xóa bỏ dân chủ, tiêu diệt đồng bào thiểu số, tiếp tục a tòng xuất cảng trẻ thơ và thiếu nữ miền Nam để làm gái mãi dâm và làm “dâu” Đài Loan, chấp nhận triều cống và sẵn sàng dâng thêm đất và biển cho Trung Cộng để “duy trì tình hữu nghị”!

2.Tác dụng chiêu dụ.

Có hai thứ mà CSVN rất thèm muốn :kỹ thuật và ngoại tệ mà họ tìm mọi cách để chiêu dụ.

Về các ngành chuyên môn và thuật quản trị, hải ngoại có thể về đóng góp trong các cuộc hội thảo, hoặc thuyết trình về các vấn đề chuyên môn hay giảng dạy theo quy chế giáo sư thỉnh giảng. Còn vấn đề về ở hẳn làm công dân của nước CHXHCNVN để đóng góp chất xám dưới quyền lãnh đạo của những kẻ có nhiều “hồng” mà chẳng có “chuyên” lại là một việc khác. Triết gia Trần Đức Thảo đã về VN và đã được giao việc dịch truyền đơn kêu gọi lính Pháp đào ngũ; sau đó Hồ Chí Minh bảo:”Chú đã học nhiều kiến thức phương Tây; bây giờ chú cần học ở nhân dân.” Tiến sĩ văn chương kiêm Tiến sĩ luật khoa Nguyễn Mạnh Tường đã về nước và dạy ở trường Dự bị đại học và sau ngày đình chiến (1954) về dạy ở trường Đại học văn khoa. Trong một buổi họp của Mặt trận tổ quốc tại Hà Nội, ngày 30-10-1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã đọc bài diễn văn với tựa đề “Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo”. Sau bài diễn văn này, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã bị cô lập và bị đẩy vào một tình trạng bi đát. Trên đây là hai trường hợp trong nhiều trường hợp điển hình về số phận của các nhà trí thức yêu nước, thương dân nhưng không chịu yêu XHCN và nhất là không chịu nịnh “dảng”!

Ngoài trí thức, CSVN còn cần ngoại tệ. Trên 3 tỉ Mỹ Kim người Việt hải ngoại gửi hoặc mang về hàng năm, họ chưa cho là đủ. Thật vậy, trong phần 1 của NQ 36, Phan Diễn viết:” Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về trí thức (VC nên nói thật lòng mình: nhất là về đô la), chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Một điểm CSVN có thể đã thấy trước. Đó là nguồn ngoại tệ từ hải ngoại về VN sẽ cạn dần, về cả hai phương diện “gởi” và “mang”: Oâng A gửi tiền hoặc mang tiền về thăm cha, me hoặc anh, chị, em ; cha mẹ anh chị em qua đời, ông A chấm dứt việc gửi tiền hoặc mang tiền về thăm; ông A qua đời, con cháu của ông ta sẽ không làm đượïc như ông ta. Do đó, NQ 36 đã đề ra phương thức “thường xuyên tổ chức…du lịch về nguồn”. Phương thức này có thể có hai tác dụng: thu ngoại tệ qua hình thức xuất cảng vô hình (du lịch) và hâm nóng tình gia tộc để con cháu nối tiếp công việc của ông cha đã qua đời: gửi tiền và mang tiền về thăm thân nhân.

Nhưng du lịch VN cũng có nhiều hạn chế: ô nhiễm nước uống, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng động, cướp giựt, tai nạn xe cộ, luật rừng , (có thể bị chụp mũ CIA, gián điệp)yêu cầu đóng góp để “phát triển đất nước”.

3.Tác dụng đánh phá.

Như trên đã nói, việc tổ chức dạy Việt ngữ với sách giáo khoa do VC soạn và giáo viên do VC cử đến có thể reo rắc vào tâm hồn của con cháu chúng ta những tư tưởng hắc ám và, do đó chúng chống lại cha mẹ, ông bà. Gia đình nào có con em tham dự lớp Việt ngữ do VC tổ chức sẽ tiếp nhận một hoặc vài tên “công an bé con” trong gia đình. Xin nhớ lại tình trạng này trong những năm tháng sau ngày VC cưỡng chiếm miền Nam.

“Chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích trong vận động xây dựng cộng đồng” sẽ có tác dụng tạo ra sự nghi ngờ , dè dặt giữa những thành viên trong cộng đồng người Việt tị nạn CS và, do đó, sẽ vô hiệu hóa các hoạt động của cộng đồng trong công cuộc đấu tranh nhằm giải thể chế độ CSVN. Mặt khác, sự khen thưởng nói trên sẽ đưa đến việc thành lập nhiều hội đoàn, nhiều cộng đồng có cùng một mục đích với thành phần hội viên giống nhau: Hội Cựu Quân Nhân, Hội Cựu Chiến Sĩ, Hội Cựu Quân Nhân Chống Cộng…Các hội này sẽ “ngồi nhìn nhau” để bới lông tìm vết, phê bình, chỉ trích, đả kích, bôi nhọ lẫn nhau chứ “không nhìn về một phía”, phía CSVN, để xem họ giở trò gì trong chiến dịch nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại.

Với việc “tăng cường cán bộ tại các cơ quan đại diện ngoại giao” và việc “ chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người VN ở nước ngoài”, CSVN quyết tâm xâm nhập cộng đồng người Việt tị nạn để rỉ tai tuyên truyền các chiêu bài của họ với từng người Việt tị nạn một hoặc với từng nhóm nhỏ và nhất là để gây mâu thuẫn giữa những người Việt tị nạn CS hầu phá nát cộng đồng hải ngoại, chiến tuyến chống cộng rất tích cực và hữu hiệu. Sau hết, và xin lập lại, các cuộc tiếp xúc đó cũng là dịp để đám cán bộ VC xin đồng bào ủng hộ định kỳ tiền bạc để đảng và nhà nước “phát triển đất nước”. Đồng bào nào đã về VN hẳn có nhiều kinh nghiệm về việc này với đám cán bộ VC trong nước, nhất là ở các tỉnh.

4.Tác dụng diễn biến hòa bình đảo ngược.

CSVN đang bối rối và sợ hãi diễn biến hòa bình mà Hoa Kỳ và các quốc gia Tây Phương đang thực hiện nhằm thay đổi dần dần chế độ CSVN. Để hóa giải tác hại của diễn biến hòa bình nói đây, CSVN nỗ lực “tổ chức thực hiện thắng lợi NQ 36”, nhằm tạo một thứ diễn biến hòa bình đảo ngược để từ từ thay đổi cộng đồng người Việt hải ngoại theo chiều hướng họ muốn. Diễn biến hòa bình nào sẽ đạt thắng lợi sau cùng? Chắc chắn không phải diễn biến hòa bình đảo ngược vì các lẽ sau đây:

-Đồng bào quốc nội đã chán ngấy chủ nghĩa MácLê, một thứ chủ nghĩa mà “thầy không muốn dạy, trò không muốn học”;

-Sau 50 năm thống trị miền Bắc và 30 năm đô hộ miền Nam, CSVN đã để lộ chân tướng là một tập đoàn chỉ yêu nước bằng mồm, mồm nói yêu nước mà hành động lại không thương dân. Cách đây mấy năm, dân đói đến độ phải ăn xương rồng mà sống lây lất qua ngày. Ở Quảng Nam có một gia đình ăn xương rồng, nấu không kỹ, đã chết toàn gia. Trong khi đó CSVN đem 10 tấn gạo dâng cho Bắc Hàn, đồng thời đẩy mạnh xuất cảng gạo để đem ngoại tệ về cho đảng. Nhờ đó mà đồng bào miền Nam đã ngậm ngùi nhờ đến câu nói cuả vị Tổng Thống nền Đệ nhị Cộng hòa:” Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm”.

-Với phương tiện truyền thông tối tân hiện nay, CSVN không còn có thể bưng bít và lừa bịp đồng bào quốc nội được nữa.

Vài ba lý do nêu trên cũng khá đủ để đồng bào quốc nội sẵn sàng chấp nhận diễn biến hòa bình mặc dù CSVN cố gắng chống lại.

Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, CSVN có thể nghĩ rằng đó chỉ là “con quạ” khù khờ trong bài ngụ ngôn “Le Corbeau et le Renard” của La Fontaine, còn mình là “con cáo” khôn ngoan. Do đó, họ chắc mẻm sẽ xơi tái Cộng đồng ấy với cái “diễn biến hòa bình đảo ngược” ï. Họ đã lầm! Lầm vì xem thường sự hiểu biết của cộng đồng người Việt về cái bản chất lừa bịp của họ. Tuy nhiên, nếu chúng ta thờ ơ, khinh xuất, không đề cao cảnh giác, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào cái bẫy sập”mật ngọt, chết ruồi”.

C.Cảnh giác của cộng đồng người Việt hải ngoại

1.Trước khi bàn về vấn đề này,xin nhắc lại bài “Con Quạ với con chồn” do cụ Nguyễn Văn Vĩnh chuyển ngữ từ bài ngụ ngôn”Le Corbeau et le Renard” của Jean de La Fontaine, một nhà ngụ ngôn lừng danh của nước Pháp vào thế kỷ thứ XVII.

Con Quạ Với Con Chồn
Con quạ đậu trên cây cao
Mỏ ngậm bánh sữa tha đâu mới về
Bắt hơi chồn tới gần kề
Muốn ăn bánh sữa cà kê phỉnh rằng:
Quạ ơi! Cụ tốt ai bằng,
Láng ô lông lá, dịu dàng hình dung
Tiếng Cụ khi cũng tốt hung
Phải Cụ kêu thử vô cùng êm tai
Tiếng trong, lông tốt gồm hai
Thượng cầm một Cụ có ai sánh tài.
Quạ nghe lời phỉnh mừng thay
Cất tiếng kêu lớn bánh rày rớt đi
Con chồn được bánh lại khi:
“Quạ ơi! Mày chớ nghe chi lời này
Lỡ lầm mày phải nhập tâm
Tao ăn bánh sữa để làm gương sau
Hụt ăn vì tiếng chuốt trau
Quạ thề lần khác thì tao không lầm!

Đọc xong bài ngụ ngôn này, chúng ta thấy: thèm miếng fromage của con quạ, con chồn trổ tài nịnh hót, dùng lời ngon tiếng ngọt, gọi quạ bằng “Cụ”, để con quạ cất tiếng kêu. Quả thật, con quạ mắc kế con chồn, hả mỏ kêu lớn và miếng fromage được “điều” từ mỏ con quạ sang miệng con chồn! Khi ấy con chồn lên tiếng “mày, tao” để dạy khôn con quạ!

CSVN muôn đời vẫn là “cáo” trong bài ngụ ngôn nói trên và vẫn dùng trăm mưu ngàn kế để lừa bịp mọi người: người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại và người của năm châu bốn bể! Bây giờ không còn ai tin CSVN một cách khơi khơi nữa. Do đó, Cộng đồng người Việt hải ngoại không bao giờ và sẽ không khi nào là con quạ khù khờ như CSVN nghĩ và mong muốn!

Từ giữa thập niên 70 trở đi, CSVN gọi đồng bào bỏ trốn chế độ CS là “bọn ma cô, đĩ điếm,bọn bán nước, rác rưởi hôi tanh…” Bây giờ họ thèm muốn nhũng gì “bọn ma cô đĩ điếm…” gầy dựng được trong 30 năm qua, họ bèn đổi giọng, gọi “bọn ma cô đĩ điếm…” là “ khúc ruột ngoài ngàn dặm, bộ phận máu thịt của dân tộc VN”.Nếu đồng bào hải ngoại tin vào các chiêu bài của họ, tự đặt mình vào tầm ảnh hưởng và chi phối của họ thì có thể đồng bào sẽ trở thành “bọn đầu hàng giai cấp” và nói theo Thành Tín “bọn thú đã được đảng ta biến thành người”.Chắc chắn khi ấy đồng bào sẽ thật sự trở thành thần dân của họ và có bổn phận đóng góp để họ “phát triển đất nước” và phải thi hành những công tác do họ giao phó.

2.Chúng ta có thể xem NQ 36 như một cuộc “tổng công kích” nhằm vào cộng đồng người Việt hải ngoại giống như cuộc “Tổng công kích Tết Mậu Thân” năm 1968 của CSBV nhằm vào VNCH.

Tại sao CSBV đại bại trong cuộc “Tổng công kích Tết Mậu Thân”? Dĩ nhiên một phần lớn nhờ sự chiến đấu dũng liệt và tuyệt vời của các quân binh chủng VNCH. Một yếu tố khác không kém phần quan trọng : Đồng bào Miền Nam. Thử hỏi nếu đồng bào hưởng ứng lời kêu gọi “tổng nổi dậy” của CSBV, vác cờ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, cờ Mặt trận giải phóng miền Nam, bích chương biểu ngữ ủng hộ “cách mạng”, đi biều tình “hoan hô, đả đảo” thì cuộc diện lúc bấy giờ sẽ ra sao?

Cuộc “Tổng công kích bằng NQ 36” của CSVN cũng sẽ thành công, nếu người Việt hải ngoại hưởng ứng lời kêu gọi của họ vì tin lời ngon tiếng ngọt và các chiêu bài lừa bịp của họ.Chúng tôi tin rằng sự hưởng ứng này khó có thể xẩy ra vì người Việt hải ngoại có quá nhiều kinh nghiệm đau thương với họ.

3, Dưới đây người viết có vài ý kiến về những việc mà cộng đồng người Việt tại các địa phương có thể thực hiện liên quan đến NQ 36.

1.Tại các tiểu bang, đồng bào đều thành lập Cộng đồng với danh xưng “ Cộng Đồng Người Việt Tự Do” hoặc “Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia”… và bầu ra một Uûy ban để điều hành cộng đồng. Không có đồng bào, sẽ không có cộng đồng. Vậy, mọi việc liên quan đến đồng bào, Uûy ban điều hành có bổn phận thông báo cho đồng bào rõ và xin đồng bào đóng góp ý kiến. Người Pháp có câu: “Deux têtes vallent mieux qu’une”.

NQ 36 là một vấn đề quan trọng. Không những nó tìm cách chiêu dụ đồng bào về tiền bạc, về chất xám mà nó còn gây tác hại nặng nề đến tâm thức của con cháu đồng bào qua các lớp Việt ngữ, sinh hoạt ngoài trời (picnic, pot luck), trại hè, du ngoạn…do tay sai CSVN tổ chức. Chẳng những thế, nó còn có thể xâm phạm đến đời sống riêng tư của gia đình đồng bào qua những cuộc viếng thăm thực hiện bởi cán bộ CS.

Bởi lý do nêu trên, người viết nghĩ Ủy ban điều hành cộng đồng nên triệu tâp Đại hội đồng hương để cùng đồng hương tìm hiểu NQ 36 và tìm cách hóa giải nó!

2.Từ năm 1976 đến nay, các tiểu bang đều có lớp dạy Việt ngữ miễn phí cho trẻ em. Nhưng lần lần các lớp đó đều phải đóng cửa vì phụ huynh không có thời giờ cho con em đến lớp và yêu cầu cộng đồng cho người đến chở giúp con em đến lớp. Cộng đồng làm sao có phương tiện để thỏa mãn yêu cầu của phụ huynh!

Bỗng nhiên một ngày nào đó, một nhóm người đứng ra tổ chức lớp dạy Việt ngữ vào hai ngày cuối tuần và các ngày lễ: họ cho xe đến chở các em đến lớp; cho các em ăn sáng trước khi lớp bắt đầu; giờ nghỉ, có bánh, có nước ngọt; trưa, có thức ăn trưa; chiều, có xe đưa các em về.

Trong trường hợp này đồng bào cần tìm hiểu nhóm người đó là ai, từ đâu đến, từ trước đến nay họ có những hoạt động gì cho cộng đồng, tiền ở đâu họ có để tài trợ việc chuyên chở, mua thức ăn, thức uống cho con em của đồng bào.

Nếu đồng bào không muốn con mình bị nhồi sọ và đầu độc bởi tà thuyết tam vô cùng những tư tưởng hắc ám khác, nếu đồng bào không muốn con mình trở thành “cháu ngoan bác Hồ” và nếu đồng bào không muốn con mình trở thành một tên “công an tí hon” rình rập mình ngày đêm để báo cáo với”giáo viên do đảng cử đến” thì sau khi tìm hiểu tung tích của nhóm người tổ chức lớp dạy Việt ngữ và xác định lớp dạy Việt ngữ đích thực là sản phẩm của NQ 36, đồng bào có hai việc đơn giản sau đây cần làm: tẩy chay và cô lập hóa, hai vũ khí chống cộng và diệt cộng rất hữu hiệu.

-Tẩy chay nghĩa là không gửi con đến lớp dạy Việt ngữ nặng mùi NQ 36, đồng thời báo động cho bà con trong cộng đồng biết để cùng tẩy chay

-Cô lập hóa nhóm người tổ chức lớp dạy Việt ngữ nếu họ là người sống tại địa phương: Không giao thiệp, không bắt tay, không chào hỏi, không chuyện trò, không nhìn mặt…

Những điều cần làm trên đây cũng sẽ được áp dụng cho trại hè, sinh hoạt ngoài trời, du ngoạn, cắm trại, đại nhạc hội…

3.NQ 36 đã tỏ ra rất “mặn mà” với công tác “mở rộng tiếp xúc với người Việt Nam ở nước ngoài kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với nhà nước và chế độ ta”. Người viết đã có vài hàng về hai chữ “mặc cảm” mà CSVN đã lên mặt kẻ cả gán cho chúng ta (xin xem phần trên).

Tiếp xúc để làm gì ? Người viết đã trả lời câu hỏi này ở phần trên. Ở đây, xin nhấn mạnh:mọi sự tiếp xúc với cán bộ CSVN đều đem lại cho chúng ta nhiều phiền muộn. Tốt hơn hết nên từ chối mọi cuộc viếng thăm của người lạ(No solicitations ! No trespassing!)

4.Từ trước đến nay, Ban tổ chức các buổi lễ (Trung thu, Tết Nguyên Đán, Sinh hoạt ngoài trời…) rất dễ dãi trong việc quay phim chụp ảnh. Ai muốn quay, cứ quay; ai muốn chụp, cứ chụp. Tưởng đã đến lúc cần đặc biệt lưu tâm đến vấn đề này. Cán bộ CSVN có thể quay phim các buổi lễ của cộng đồng hải ngoại, đem về VN trình chiếu cho đồng bào quốc nội xem với lời giải thích như sau:” Hưởng ứng NQ 36 của Bộ chính trị đảng ta, cộng đồng người Việt tại thành phố Y đã tổ chức thành công Tết Trung Thu cho con em. Có hơn 3 ngàn trẻ em tham dự, diễn hành với lồng đèn do sứ quán ta trao tặng……”Biết đâu vào ngày 26/3/2005, tại quốc nội CSVN sẽ huênh hoang kiểm điểm thành quả sau một năm “thi hành thắng lợi NQ 36” tại các “cộng đồng người VN ở nước ngoài” với hình ảnh cáclớp học, các buổi lễ, các buổi cắm trại do cộng đồng người Việt tị nạn CS tổ chức. Với kỹ thuật tân kỳ hiện nay, việc biến CỜ VÀNG thành cờ máu trong các phim ảnh có gì là khó khăn! Đừng nghĩ rằng CSVN không dám làm chuyện này vì quá lộ liễu. Không đâu! Cái gì họ cũng có thể làm để phục vụ công tác tuyên truyền của họ.

Trên đây chỉ là vài đề nghị vụn vặt. Đại hội cộng đồng chắc chắn sẽ đề ra những biện pháp qui mô và hữu hiệu hơn.

CSVN đã quyết tâm thôn tính Cộng đồng người Việt hải ngoại bằng NQ 36. họ đã chuẩn bị khá kỹ sự thi hành NQ Kèm theo NQ 36 là quyết định số 110/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ CSVN đề ra “Chương trình hành động” với 10 công tác phải làm để để “thực hiện thắng lợi NQ nêu trên của Bộ chính trị”. Ngày 21/7/2004 một hội nghị do Bộ chính trị đảng CSVN triệu tập tại Hà Nội gồm “Ban cán sự đảng Bộ ngoại giao, Ban cán sự đảng ngoài nước, Uûy ban về người Việt ở nước ngoài , Mặt trận tổ quốc, Ban tư tưởng văn hóa trung ương” để học tập và phổ biến NQ 36 đến “cán bộ chủ chốt các bộ, ban ,ngành ở trung ương và 64 tỉnh thành trong cả nước”. Trong hội nghị, Phạm Thế Duyệt, chủ tịch Mặt trận tổ quốc của CSVN, đã công khai hóa” Hội thân nhân Việt kiều”, một tổ chức đã được thành lập và hoạt động từ năm 1994. Có thể nói trong hội nghị này, CSVN đã hạ lệnh cho toàn đảng, cho cả guồng máy chính quyền của họ “thực hiện thắng lợi NQ 36”.

Sáng ngày 23/7/2004, CSVN tại Saigon đã tổ chức một buổi họp mặt với 118 Việt kiều mà đa số là “tàn dư Việt kiều yêu nước thuở xa xưa” để học tập NQ 36. Các Việt kiều này có nhiệm vụ “triển khai” NQ đến người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới…

Với những công tác chuẩn bị ồn ào nói trên, CSVN nghĩ rằng đồng bào hải ngoại:

-sẽ tin những lời “vuốt ve phỉnh lừa” của họ .
-sẽ tin các chiêu bài cũ rich của họ
-đã quên trên dưới một vạn đồng bào bị họ thảm sát tại cố đô Huế
-đã quên việc họ dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng
-đã quên những thủ đoạn tàn độc của họ trong quá khứ
-không hề để tâm đến những gì họ đang làm trong hiện tại: đàn áp tôn giáo, chà đạp nhân quyền, tiêu diệt dân chủ
-không hề biết tới cái”pháp lệnh tôn giáo” họ mới vừa ban hành và sẽ có hiệu lực vào ngày 15/11/2004 để tiếp tay với họ “thi hành thắng lợi NQ 36”.

Kỳ vọng càng cao, thất vọng càng lớn.CSVN đánh giá quá thấp trí nhớ và sự hiểu biết của đồng bào hải ngoại về bản chất lừa bịp cố hữu của họ. Những gì họ kỳ vọng nơi đồng bào sẽ không bao giờ xẩy ra! Nói như thế không phải người viết khinh địch và quên lời nói của người xưa” chưa thắng đã kiêu, chưa thua đã rối”. Chúng ta “không kiêu” chúng ta “không rối”. Chúng ta chỉ có một quyết tâm: quyết tâm vô hiệu hóa NQ 36 để CSVN không còn phương tiện cứu đảng, cứu chế độ, một chế độ phi nhân, tàn độc chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà, một chế độ làm kinh tài bằng cách xuất cảng trẻ thơ làm gái mãi dâm nơi xứ người và xuất khẩu công nhân làm nô lệ ngoại bang.

Người viết nghĩ rằng các hội đoàn, các đoàn thể, các tổ chức đấu tranh và Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại đã hoàn tất việc soạn thảo kế hoạch chống NQ 36. Đồng bào hải ngoại là yếu tố quyết định sự thành công của kế hoạch đề ra.

Tháng 10 năm 2004
MX Lê Công Truyền

CƯỚC CHÚ

0. “…Vệ quốc đoàn, bố đẻ của quân đội nhân dân, đã viết những trang sử ô nhục nhất của lịch sử quân đội thế giới ở Láng Linh bằng sự thất trận và dã man, trước những người tu hành. Họ bắn như say máu. Đàn ông, đàn bà, ông già người trẻ ào ào xông lên trước lằn đạn trung liên của Vệ quốc quân. Thây chất lên thây, máu tràn lên máu. Mặc, người Láng Linh cứ xông tới, tay cầm cờ dà, tay hươi binh khí, phần lớn là dao kiếm gỗ, có cả những người tay không. Trước uất khí của Láng Linh, bộ đội phải rút lui bằng nhiều ngả. Để gỡ lại chút uy tín, trước khi rời Láng Linh, bộ đội đã lùa hàng trăm thường dân, gom trước sân một nhà giảng. Viên chỉ huy bắt một người đàn bà đang bồng con ra khỏi đám đông, rút lá cờ dà trong túi ném xuống đất và giật đứa bé ném thí mạng vào đám đông. Anh ta lấy chân hất cho lá cờ trải rộng ra, rồi rút súng ngắn trỏ vào mặt người đàn bà, quát:”Lết lên!”. Người đàn bà quấn khăn nâu viền vàng trên đầu, đứng trân trân, mắt trừng trừng nhìn viên chỉ huy. Anh ta lên đạn, quát:”Lết lên! M……….. .au!”. Người đàn bà vẫn đứng, mắt ngó lá cờ. Viên chỉ huy vung súng, quát:”Lết lên, không tao bắn!”.Người đàn bà chớp mắt lia lịa. Hàng trăm cặp mắt chớp theo. Viên chỉ huy bước tới, dí súng vào thái dương người đàn bà, quát:”Ngồi xuống, lết qua, không tao bóp cò!”. Rồi một tay giữ súng dính vào thái dương, tay kia anh ta đẩy sau lưng người đàn bà, nhưng người đàn bà vẫn chôn chân như cây cột. Viên chỉ huy hạ giọng:”Thôi bứơc qua cũng được. Không phải lết!”. Người đàn bà bị đẩy suýt chúi nhủi, bước vòng rồi quay lại nhìn lá cờ. Viên chỉ huy đi theo và lần này ra lịnh cho đơn vị:”Súng máy, súng múc chĩa vào bọn người kia”. Tíêng “cu lách” chuyển động lạnh xương sống. “ Mày có bước qua hay không thì bảo!”. Viên chỉ huy nghiến răng ấn họng súng vào thái dương người đàn bà và lôi chiếc khăn trên đầu của chị ném xuống đất. Người đàn bà vụt quỳ xuống nhặt lấy lá cờ lẫn khăn đội lên đầu.

Đoành! Đoành!Đoành! Anh ta siết cò ba lần. Người đàn bà ngã lăn, hai tay vẫn nắm chặt lá cờ miết trên mái tóc. Mấy trăm người kia ào lên thành sóng, xô tới.Viên chỉ huy hét:”Bắn!”. Tất cả súng máy, súng múc đều phụt khói.”Bắn ! bắn!”, Hắn vung tay quát tiếp:”Bắn sạch!”. Họ bắn chết sạch thật. Họ phóng lửa đốt luôn nhà giảng. Những đứa bé con ngo ngoe, còn bò lê, còn khóc,đều bị các Vệ quốc quân xách chân ném vào lửa…….. .

1.Tiếp xúc với kiều bào ngày 15-1-04, Chủ tịch nước CHXHCNVN Trần Đức Lương đã đưa ra chiêu bài mà NQ 36 đã lập lại gần như nguyên văn:”Đồng bào VN ở nước ngoài là một bộ phận máu thịt của dân tộc VN”

2.Ủy viên trung ương đảng CSVN Lương Quốc Dũng (LQD), Phó chủ tịch Uûy ban thể dục thể thao, 52 tuổi, đã trả tiền cho người tình cũ của y để thị này dụ em nhỏ 13 tuổi đến khách sạn cho y thỏa mãn dâm tính với giá 1000 đô la để y “xả xui”.tội ác xẩy ra ngày 30-12-03 và cha nẹ em bé đã tố cáo với công an vài ngày sau đó. Thế mà mãi đến 11 giờ ngày 19-2-04, công an Hà Nội mới bắt giam LQD. Phải chăng vì sự việc quá lộ liễu, tà quyền VC không ém nhẹm được nên đành phải để công an bắt giam can phạm ?

Vụ LQD còn đang làm dư luận xôn xao thì một hành động đầy “đạo đức cách mạng” khác xẩy ra. Một đảng viên cao cấp trong ngành thể dục thể thao VC bị một vận động viên tên NTTV tố cáo với lời lẽ “tả chân” mà chúng tôi không dám viết ra (xin xem mạng lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường)

3.Câu chuyện cô Nông Thị Xuân “phục vụ” Hồ Chí Minh có con rồi bị thủ tiêu bằng một tai nạn xe hơi. (Xin đọc Lửa Việt, bộ mới, năm thứ năm, số 50 ngày 15-7-97 và Thế Kỷ 21 số 46 tháng 4/97 trang 33-40 :Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ Chí Minh, tác giả là ông Nguyễn Minh Cần, cựu Phó chủ tịch Uûy ban hành chánh thành phố Hà Nội.

4.Hồi tháng 6-2003, tiếp xúc với đồng bào tại miền Đông Hoa Kỳ, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao CSVN, trong cuộc mạn đàm đã hỏi đồng bào:”Sao các anh giận lâu thế?”. Rất tiếc là không có ai hỏi lại hắn:” Sao CSVN ngu lâu thế, nhắm mắt lâu thế.? Hãy mở mắt ra.”

5.Le Livre Noir Du Communisme, Edition Robert Laffont, S.A. Paris, 1997 (Pourquoi ? par Stéphane Courtois, trang 816:” Qui n’est pas avec moi est contre moi – Qui est contre moi doit mourir”

6.Tất cả các nhà phản kháng trong nước như các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình… đều bị “nhà nước” vu cáo là “gián điệp”, sau đổi thành “lợi dụng dân chủ”

7.Vũ Thư Hiên,”Đêm Giữa Ban Ngày”.(nhà xuất bản Văn Nghệ,1997), trang 761:”…Oâng (Trường Chinh) qua đời vì chấn thương não trong một cú ngã ở cầu thang. Có tin ông bị Lê Đức Thọ sai tên bảo vệ ông, người của Trần Quốc Hoàn, hạ sát…”

Trong chuyến công tác ở miền Nam, sau bữa cơm trưa, Phạm Hùng ngủ luôn không bao giờ dậy nữa. Nguyễn Thị Định la lớn: ”Tại sao lại như vầy ?”

Lê Công Truyền

Tài liệu mật của Việt Cộng ‘Báo cáo trong cuộc họp mặt kiều vận’

Thưa các đồng chí,

Đảng quang vinh của chúng ta muốn tồn tại và phát triển, giữ vai trò là đảng tiên phong và duy nhất lãnh đạo đất nước, thì có mấy mục tiêu quan trọng sau đây phải được quan tâm đúng mức:

1. Phải làm cho dân chúng vừa yêu vừa sợ.

Nếu không thể làm cho người dân yêu mến – điều mà tôi e là sự thật cay đắng cần chấp nhận – thì cũng phải tuyệt đối duy trì nỗi sợ hãi để họ không bao giờ có đủ ý chí mà nổi loạn.

2. Phải giữ cho cái gọi là ‘phong trào dân chủ đối lập’ không thể trở thành phong trào đúng nghĩa, không thể bén rễ và lan rộng.

Phải làm sao để nó chỉ là hoạt động manh mún, rời rạc, tự phát của các cá nhân đơn lẻ; làm cho có nhiều ‘lãnh tụ’ mà ít hoặc không có quần chúng; có nhiều ‘nhân sĩ trí thức’ mà ít hoặc không có một tổ chức nào có thực lực; có nhiều những hoạt động lãng mạn hời hợt có tính phô trương – mà người dân có biết đến cũng chỉ mỉm cười ý nhị –chứ ít hoặc không có những hoạt động thiết thực có tầm mức ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội; có thật nhiều những hoạt động ‘chống cộng cực đoan’ có tính chất phá hoại từ bên trong, gây phản cảm đối với người dân lao động, thậm chí làm cho những gia đình cách mạng và đội ngũ cựu chiến binh phẫn nộ…

Tóm lại, phải làm cho người dân nếu không quay lưng thì cũng thờ ơ với cái gọi là ‘đấu tranh dân chủ’. Cụ thể như thế nào thì tôi đã có dịp trình bày.

3. Phải chủ động trong việc nâng cao dân trí để làm bàn đạp mà phát triển kinh tế, nhưng lại phải lèo lái để ‘dân trí cao’ không đồng nghĩa với ‘ý thức dân chủ cao’.

Phải làm sao để chất lượng giáo dục bậc đại học được cải thiện nhưng đa số sinh viên phải trở nên thực dụng hơn, có tinh thần’entrepreneurship’ – khao khát tiền bạc và công danh, mạo hiểm và sáng tạo trong kinh doanh, cầu tiến trong sự nghiệp riêng, tôn thờ Bill Gates và chủ nghĩa tiêu thụ – nhưng đồng thời cũng tuyệt đối thờ ơ với những lý tưởng và hoài bão cải biến xã hội, xa lạ với những tư tưởng trừu tượng viễn vông, tìm kiếm những giải pháp cá nhân thay cho ý thức công dân, và đặc biệt là tránh xa âm mưu thay đổi chế độ.

4. Phải chủ động trong việc mở rộng xã hội dân sự, thuần phục và trung hòa giai cấp trung lưu đang lớn mạnh (gọi là ‘co-optation’ )…

Làm sao để trong mỗi tổ chức dân sự đều có chân rết của ta. Các tổ chức trung gian như mặt trận Tổ quốc, công đoàn, hội phụ nữ, các hội cựu chiến binh, các câu lạc bộ hưu trí… phải phát huy vai trò tối đa trong việc trung hòa những nhân tố nguy hiểm, điều hòa những xung đột nếu có giữa nhà nước và xã hội, giảm thiểu sự bất mãn của dân chúng…

Làm sao để xã hội dân sự vẫn được mở rộng nhưng theo hướng có kiểm soát của chúng ta, chứ không trở thành mối đe dọa.

Quan trọng hơn cả là chúng ta phải tiếp tục nuôi dưỡng nỗi sợ hãi –dù chỉ là nỗi sợ mơ hồ trong tiềm thức – nhưng đồng thời cũng không để cho nhân dân cảm thấy tuyệt vọng. Cho dù người dân có bất mãn về chuyện này chuyện kia thì vẫn làm cho họ nuôi hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Và phải làm điều này một cách hết sức tinh vi, kiên nhẫn, đôi lúc phải can đảm cắt bỏ những khối u trong đảng để làm nguội bớt nỗi tức giận của nhân dân.

Trong trường hợp này thì việc thả Nguyễn Việt Tiến và việc bắt giam hai nhà báo là sai lầm. Lẽ ra chúng ta phải không tiếc một số ít các đồng chí tham lam quá mức, biến họ thành dê tế thần để giành lại niềm tin của nhân dân, hoặc ít nhất cũng làm họ giảm bất mãn, trong nỗ lực chống tham nhũng của chúng ta.

Một người bất mãn cực độ là một người nguy hiểm. Một người tuyệt vọng đôi khi còn nguy hiểm hơn. Một người lạc quan, nhiều hy vọng, thì thường cũng là một người dễ bảo, yêu chuộng sự ổn định và do đó không có ý định phản kháng.

Chúng ta phải biết dùng mồi để nhử, đánh vào thói tham lam ích kỷ lẫn thói háo danh của người đời, vừa phải làm sao để tinh thần thực dụng và chủ nghĩa mánh mung chụp giật trở thành bản tính của dân tộc – vốn đã rã rời về ý chí, tan vỡ về niềm tin, chán ngán các loại ýthức hệ; nhưng đồng thời cũng phải chuẩn bị sẵn những cái van để dân chúng có chỗ giải tỏa ẩn ức.

Tuyệt đối không để sự bất mãn trong xã hội tích tụ lại vượt quá ngưỡng kiểm soát của chúng ta. Kiên quyết tiêu diệt mọi mầm mống có khả năng dẫn đến các loại hoạt động đối kháng có tổ chức, có sự phối hợp rộng rãi; tuyệt đối ngăn chặn khả năng huy động được đông đảo quầnchúng tham gia.

Chúng ta phải nghiên cứu tất cả những tư tưởng gia vĩ đại trong việc chiếm đoạt quyền lực và duy trì vị trí độc tôn, từ Tôn Tử, Ngô Khởi, Trương Tử Phòng, Lý Tư… và Mao Trạch Đông ở phương Đông, cho đến Machiavelli – tác giả cuốn cẩm nang ‘The Prince’ nổi tiếng ở phươngTây, thậm chí cả Napoleon, Hitler, Stalin… hoặc Hugo Chavez thời nay.Tất cả đều có những điều rất đáng để chúng ta học hỏi, từ nghệ thuật mị dân cho đến những thủ đoạn cứng – mềm linh hoạt trong việc đối phó với địch, và cả những sai lầm chiến thuật của các vị này.

Phải làm sao để chúng ta vẫn trấn áp được đối lập dân chủ, nhưng vẫn không làm sứt mẻ quan hệ ngoại giao đang ngày một tốt hơn với HoaKỳ và phương Tây – vốn là những kẻ đạo đức giả, duy lợi và thực dụng nhưng thích rao bán tấm áo ‘dân chủ tự do’ cùng với những khẩu hiệu cao đẹp khác.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải khái quát những luận điểm của Machiavelli để có thể áp dụng cho một chế độ, một đảng phái có cơ cấu phức tạp, chứ không phải là một nhà độc tài quân phiệt giản đơn.

Một nhà độc tài dù tàn độc đến đâu, ranh ma đến đâu, thì cũng chỉ là một kim tự tháp trên sa mạc, tĩnh lặng và không tiến hóa – nên trước sau cũng sẽ để lộ sơ hở chết người. Nhưng một đảng chuyên quyền thì luôn luôn biến động, thay đổi và lớn lên không ngừng; biết bù đắp khiếm khuyết, che dấu yếu điểm, phô trương sức mạnh một cách vô cùng linh động… và đặc biệt có đủ tài lực và nhân lực để lan tỏa chân rết đến mọi ngõ ngách của xã hội, kiểm soát cả dạ dày lẫn linh hồn của nhân dân.

Bác Hồ (hay có thể là bác Lê Nin) đã dạy: người cách mạng phải không ngừng học hỏi, học từ nhân dân và học từ kẻ địch; phải không ngừng tiến hóa về mặt tư duy lẫn thủ đoạn để sống sót mà vươn lên trong bất cứ hoàn cảnh nào; phải luôn uyển chuyển và linh động để sẵn sàng thay máu đổi màu khi cần thiết, thậm chí sẵn sàng đào thải cả những đồng chí quá tham lam và ngu dốt có hại đến lợi ích chung của đảng. Đối với địch thủ thì phải thiên biến vạn hóa, ranh ma tàn độc đủ cả… và đặc biệt phải biết dùng hình nộm kết hợp với thủ đoạn đấu bò tót kiểu Tây Ban Nha để thu hút ám khí và sừng bò của đối thủ.

Trong lúc đối thủ tiêu hao lực lượng vì đánh vào những hình nộm rơm, hoặc phung phí thời gian và sức lực vào những mục tiêu viễn vông,thì chúng ta lạnh lùng quan sát, phân tích thấu đáo địch tình, ra đòn bất ngờ và hợp lý để địch chết không kịp ngáp.

Đặc biệt chúng ta ngầm khuyến khích những hành động tự sát theo kiểu ‘không thành công cũng thành nhân’ – tất nhiên là phế nhân. Chúng ta cũng phải biết lắng nghe những phê phán của địch thủ mà thay đổi cho thích hợp. Kẻ đối địch luôn có những bài học quí giá mà chỉ có những người bản lĩnh và khôn ngoan mới nhìn ra.

Nếu kẻ địch lãng mạn viễn vông với những khẩu hiệu trừu tượng như’dân chủ’, ‘nhân quyền’, ‘tự do’ … thì chúng ta phải thực tế với những tiêu chí cụ thể như ‘ổn định xã hội’, ‘tăng trưởng kinh tế’, ‘xóa đói giảm nghèo’.

Nếu kẻ địch hô hào những điều khó hiểu du nhập từ phương Tây như ‘đa nguyên’, ‘đa đảng’, ‘pháp trị’, ‘khai phóng’… thì chúng ta phải tích cực cổ vũ mô hình Nhân Trị của đấng Minh Quân – nhưng ở đây Minh Quân phải được hiểu là đảng cộng sản – cũng như đề cao những ‘giá trị Á châu’ một cách khéo léo.

Phát Huy dân chủ cơ sở – tập trung

Chúng ta cũng phải phát huy ‘dân chủ cơ sở’, ‘dân chủ tập trung’, ‘dân chủ trong đảng’… để làm sao cho dân thấy đảng không phải là cái gì đó cao xa vời vợi, mà đảng cũng là dân, ở ngay trong dân, từ dân mà ra, đã và đang đồng hành cùng với dân.

Phải cho dân thấy là nếu đảng có xe hơi thì dân cũng có hon đa – chứ không phải đi bộ; nếu đảng có đô la thì dân cũng có tiền in hình Bác đủ tiêu xài – chứ không quá túng thiếu; nếu đảng có cao lương mỹ vị thì dân cũng có gạo ăn – không chết đói mà còn dư thừa để đem xuất khẩu.

Đặc biệt là phải tích cực tuyên truyền và giải thích để người dân hiểu được ý nghĩa của ‘dân chủ’ theo cách có lợi cho chúng ta: ‘dânchủ’ nghĩa là đảng luôn lắng nghe dân, phản ánh ý nguyện của dân (phần nào thôi) qua những chính sách vĩ mô và vi mô, thỏa mãn niềm tự ái của dân vì được dạy dỗ đảng, cũng như kích thích lòng tự hào dân tộc của dân để hướng nó vào những kẻ thù mơ hồ dấu mặt ở bên ngoài.

Đối thủ của chúng ta thường lãng mạn và nhiều nhiệt tình nhưng ít chịu học hỏi, hoặc nếu có học thì chỉ qua quýt đủ để thuộc lòng những khẩu hiệu trừu tượng như ‘nhân quyền’, ‘dân chủ’… rồi nhai đi nhai lại làm dân chúng phát nhàm. Nói chung, đối thủ của chúng ta thường chỉ biết đến một số cuốn cẩm nang về dân chủ có ngôn từ rất kêu, rất đẹp, nhưng nghèo nàn về phương pháp thực tế, lẫn lộn giữa cứu cánh và phương tiện.

Ngược lại, chúng ta cần phải tích cực nghiên cứu sâu sắc những trước tác của các học giả phương Tây về khoa học chính trị và kinh tế học. Chúng ta phải nhận thức được đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa ‘thể chế chính trị’ và ‘phát triển kinh tế’.

Hai phạm trù ‘dân chủ’ và ‘phát triển’ có quan hệ hết sức phức tạp, phi tuyến, chứ không phải là quan hệ nhân – quả. Nghiên cứu kỹ về vấn đề này sẽ rất có lợi cho chúng ta trong việc chủ động phát triển kinh tế mà không cần phải ‘dân chủ hóa’.

Chúng ta cũng phải nhìn nhận một thực tế là: phát triển kinh tế làm phát sinh một số yếu tố hiểm nguy cho chế độ. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, tùy thuộc vào khả năng ‘tháo ngòi nổ’ của chúng ta, cũng như khả năng khai thác những yếu tố hiểm nguy này của đối lập dân chủ.

Chẳng hạn, học giả Daron Acemoglu của đại học MIT danh tiếng đã có nhiều phân tích về ‘nguồn gốc kinh tế của các chế độ độc tài và dânchủ’. Trong đó ông đã chỉ ra rằng phát triển kinh tế kèm theo việc phân bố của cải vật chất một cách tương đối công bằng, đồng thời với việc nới lỏng một cách chừng mực những tự do dân sự, thì bất mãn của xã hội sẽ không quá cao, do đó hoàn toàn có thể duy trì chế độ độc tài mà vẫn thúc đẩy kinh tế phát triển. Đó là trường hợp của Singapore, điển hình của một nhà nước độc tài sáng suốt.

Một ví dụ nữa là những nghiên cứu của Bruce Bueno de Mesquita, đã chỉ ra cho chúng ta những kinh nghiệm quí báu trong việc đàn áp cái gọi là ‘coordination goods’, tức là những yếu tố vốn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu được vận dụng bởi đối lập dân chủ thì lại trở thành những vũ khí đáng sợ. Đó là nghệ thuật ‘đàn áp có chọn lọc’ mà tôi đã có dịp phân tích.

Giới trẻ và sinh viên học sinh

Một kết quả bất ngờ mà theo tôi cũng là một kinh nghiệm quí trên mặt trận tuyên truyền nhồi sọ: việc chúng ta bắt ép sinh viên phải học tập chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại những kết quả ngoài mong ước.

Thành công của chúng ta không phải đã đạt được mục đích ban đầu là làm cho thế hệ trẻ tôn thờ thứ chủ nghĩa mà ngay cả chúng ta cũng không tin. Ngược lại, thành công của chúng ta là đã làm cho thế hệ trẻ chán ngán đến tận cổ khi phải học mãi một thứ ý thức hệ lỗi thời, bịnh ồi nhét đến phản cảm những tư tưởng cũ kỹ. Nhờ vậy chúng ta đã đào tạo ra một thế hệ trẻ thờ ơ vô cảm với tất cả các loại tư tưởng và ý thức hệ, chai sạn với lý tưởng và hoài bão mà thanh niên thường có,trở nên thực dụng và ích kỷ hơn bao giờ hết.

Thế hệ trẻ hôm nay, ngoài cái đức tính thực dụng và tinh thần chụp giật, cũng như niềm khao khát tiền bạc, công danh, ám ảnh bởi chủ nghĩa hưởng thụ, thì chỉ còn le lói ‘tinh thần dân tộc’ vẫn còn sót lại trong máu huyết của mỗi người Việt.

Đây là con dao hai lưỡi, là con giao long đang nằm yên, mà chúng ta cần phải biết lèo lái một cách khôn ngoan để không xảy ra một tiểu Thiên An Môn ở Ba Đình.

Dưới chế độ chuyên chế nào cũng vậy, sinh viên và trí thức trẻ luôn luôn là những kẻ nguy hiểm nhất, là ngòi nổ của quả bom, là kíp mìn hẹn giờ, là hạt nhân của các phong trào đấu tranh. Các cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ độc tài bao giờ cũng do sinh viên và trí thức dẫn đầu; công nhân, nông dân, và các tầng lớp lao động khác chỉ là sức mạnh cơ bắp. Chỉ có trí thức và sinh viên mới đủ lý luận để huy động được đông đảo quần chúng, mới có lý tưởng để dấn thân, và mới có khả năng tổ chức và phối hợp.

Triệt tiêu được những phong trào sinh viên, cô lập được những trí thức phản kháng, chính là đánh vào đầu não chỉ huy của địch. Những thứ còn lại như ‘dân oan biểu tình’, ‘công nhân đình công’… chỉ là cơ bắp của một cơ thể đã bị liệt não.

Như trên đã nói, chúng ta đã thành công trong việc làm cho sinh viên trở nên lãnh cảm về các loại ý thức hệ, thờ ơ với những tư tưởng tự do khai phóng từ phương Tây. Chúng ta chỉ còn phải đối phó với tinh thần dân tộc của sinh viên đang có nguy cơ thức dậy, mục đích là để nó ngủ yên, nếu không phải lèo lái nó theo hướng có lợi cho chúng ta.

Trí thức

* Đối với tầng lớp trí thức, những biện pháp ‘vừa trấn áp vừa vuốt ve’ từ xưa đến nay đã đem lại kết quả khả quan. Chúng ta đã duy trì được một tầng lớp trí thức hèn nhát, háo danh, và nếu không quá ngu dốt thiển cận thì cũng chỉ được trang bị bởi những kiến thức chắp vá, hổ lốn, lỗi thời.

* Nói chung, đa số trí thức của chúng ta đều hèn, đều biết phục tùng theo đúng tinh thần ‘phò chính thống’ của sĩ phu xưa nay. Phần lớn những kẻ được coi là trí thức cũng mang nặng cái mặc cảm của việc học không đến nơi đến chốn, ít có khả năng sáng tạo, và so với trí thức phương Tây về cả tri thức lẫn dũng khí đều cách xa một trời một vực.

* Trí thức của chúng ta vẫn mãi mãi giữ than phận học trò, kiểu sĩ hoạn mơ ước được phò minh chủ, hanh thông trên đường hoạn lộ, chứ không bao giờ vươn lên thành những nhà tư tưởng lỗi lạc.

* Tầm mức ảnh hưởng của trí thức đến xã hội không đáng kể, không dành được sự kính trọng từ các tầng lớp nhân dân, thậm chí còn bị người đời khinh bỉ bởi sự vô liêm sỉ và thói quen ném rác vào mặt nhau.

* Chỉ có một số ít trí thức vượt qua được cái vỏ ốc hèn nhát, nhưng thường là quá đà trở nên kiêu ngạo tự mãn, coi mình như núi cao sông sâu, là lương tâm thời đại. Những người này quả thật có dũng khí, nhưng cũng không đáng sợ lắm bởi đa phần đều có tâm mà không có tài, có đởm lược mà ít kiến thức.

* Đa phần trong số này cũng chỉ đến khi về hưu mới thu gom được dũng khí mà ra mặt đối đầu với chúng ta, do đó sức cũng đã tàn, lực cũng đã kiệt. Một số ít trẻ trung hơn, nhiệt huyết còn phương cương, thì lại chưa có kinh nghiệm trường đời, chưa được trang bị lý luận chu đáo, chưa có kiến thức về dân chủ sâu rộng. Với những kẻ này chúng ta đàn áp không nương tay, bỏ tù từ 3 đến 7 năm. Đó là

phương cách giết gà từ trong trứng.

Thử tưởng tượng xem một tài năng trẻ phải thui chột những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời trong lao tù, cách ly với môi trường học vấn, gặm nhấm nỗi cô đơn thay cho việc học hành nghiên cứu, thì sao có thể phát triển hết khả năng? Khi ra tù thì cũng đã quá tuổi trung niên, mệt mỏi, chán chường. Nếu vẫn còn dũng khí thì cũng đã tụt hậu về kiến thức, bị trì néo bởi gánh nặng gia đình, còn làm gì được nữa?

—–

Với những phân tích như trên tôi cho rằng chế độ của chúng ta vẫn còn bền vững ít nhất thêm hai mươi năm nữa. Nhưng thời thế đổi thay. Chúng ta không thể kiêu ngạo mà tin rằng sẽ trường tồn vĩnh viễn.

Chúng ta luôn học hỏi và thay đổi để sống còn và vươn lên, nhưng cũng nên biết rằng đối thủ của chúng ta có lẽ cũng không quá ngu ngốc.

Nếu kẻ địch cũng nhìn ra được mạnh – yếu của chúng ta, cũng biết tự đổi thay để thích nghi, cũng biết học cách đấu tranh có phương pháp, có tổ chức, có chiến lược… thì chuyện gì sẽ xảy ra sau hai mươi năm nữa thật khó mà biết được.

Đó là một cuộc đua đường trường mà kẻ nào dai sức hơn, bền chí hơn, khôn ngoan hơn, thì sẽ đến đích trước.

Chúc các đồng chí chân cứng đá mềm và luôn nhớ lời dạy của Hồ Chủ Tịch: ‘khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng’.

Nguyễn Tâm Bảo

Be the first to start a conversation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: